Dấu hiệu thường gặp
Theo Thanh Niên, từ các ca lâm sàng được ghi nhận tại Bệnh viện Bạch Mai, các bác sĩ Trung tâm Cấp cứu A9 cho biết: Đột tử ở người trẻ không chủ yếu do xơ vữa mạch vành như người lớn tuổi, mà thường liên quan đến: bệnh cơ tim và bệnh tim cấu trúc bẩm sinh; viêm cơ tim (thường sau nhiễm vi rút); bất thường động mạch vành; các hội chứng rối loạn nhịp tim di truyền…
Các dấu hiệu cảnh báo thường gặp gồm: hồi hộp, tim đập nhanh bất thường; đau ngực, tức ngực; ngất, choáng váng, xỉu; co giật (dễ bị nhầm với động kinh hoặc tai biến). Đặc biệt, nam giới trẻ tuổi có các biểu hiện này cần được thăm khám tim mạch sớm, nhất là khi triệu chứng xuất hiện lúc nghỉ ngơi hoặc khi đang ngủ, thời điểm chiếm tỷ lệ cao trong các ca ngừng tuần hoàn.

Ảnh minh họa.
Mối liên hệ giữa đột quỵ và đột tử
Tiền Phong dẫn lời các bác sĩ Bệnh viện đa khoa Tâm Anh, ước tính có khoảng 10 – 20% ca đột tử xảy ra do đột quỵ. Đột tử là một hậu quả nghiêm trọng của đột quỵ. Đột quỵ cấp có thể dẫn đến tình trạng rối loạn kiểm soát tự chủ trung ương, gây tổn thương cơ tim, khiến điện tâm đồ bất thường, làm loạn nhịp tim và sau cùng là dẫn đến đột tử.
Bằng chứng thực nghiệm và lâm sàng cho thấy sự mất cân bằng thần kinh tự chủ thường xảy ra hơn sau nhồi máu não liên quan đến thùy đảo, một vùng quan trọng kiểm soát các chức năng tự chủ của hệ giao cảm và phó giao cảm. Các bệnh lí tim mạch đi kèm làm tăng nguy cơ biến cố tim mạch và tử vong sau đột quỵ.
Tuy nhiên, cơ chế chính xác dẫn đến đột tử vẫn chưa được hiểu rõ hoàn toàn. Cần nhiều nghiên cứu hơn để làm sáng tỏ hậu quả của rối loạn thần kinh tự chủ trong giai đoạn đột quỵ cấp và để xác định những bệnh nhân có nguy cơ đột tử cao.
Phòng ngừa
Để phòng ngừa đột quỵ não và đột tử do tim mạch, giới chuyên môn khuyến nghị áp dụng “Life’s Simple 7” – bảy nguyên tắc sống đơn giản được Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ đề xuất, bao gồm: không hút thuốc, duy trì hoạt động thể chất đều đặn, ăn uống lành mạnh, kiểm soát cân nặng, ổn định huyết áp, đường huyết và mỡ máu trong giới hạn cho phép. Ngoài ra, khám sức khỏe định kì và theo dõi các yếu tố nguy cơ sẽ giúp phát hiện sớm và phòng tránh hiệu quả các biến chứng nguy hiểm đe dọa tính mạng.
Hiểu đúng để xử trí đúng là bước đầu tiên và quan trọng nhất trong cuộc chiến bảo vệ sức khỏe tim mạch và não bộ.
Những ai có nguy cơ cao bị đột quỵ, đột tử?
Khi nói đến các tình trạng nguy hiểm như đột quỵ hay đột tử, phần lớn chúng ta thường chú ý đến nguyên nhân gây bệnh mà quên mất rằng, nhận diện sớm những đối tượng có nguy cơ cao mới là chìa khóa để phòng ngừa hiệu quả.
Nhóm người dễ gặp đột tử thường là những cá nhân có tiền sử bệnh tim mạch như nhồi máu cơ tim, bệnh mạch vành, rối loạn nhịp tim, phì đại cơ tim hoặc mắc bệnh tim bẩm sinh. Ngoài ra, các rối loạn chuyển hóa như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu nếu không được điều trị và kiểm soát cũng góp phần làm tăng nguy cơ đột tử.
Lối sống thiếu lành mạnh là yếu tố không thể bỏ qua. Việc lạm dụng rượu bia, hút thuốc lá, béo phì nặng, ít vận động hay sử dụng chất kích thích đều có thể khiến tim bị tổn thương âm thầm. Đặc biệt, với những trường hợp trong gia đình có người từng mất đột ngột khi còn trẻ mà không rõ nguyên nhân, nguy cơ xảy ra đột tử do bất thường di truyền là điều cần được cảnh giác.
Trong khi đó, nguy cơ đột quỵ lại thường gặp hơn ở người có bệnh lí tim mạch nền, tăng huyết áp, tiểu đường, rối loạn lipid máu. Tiền sử từng đột quỵ, mắc các cơn thiếu máu não thoáng qua, hoặc có người thân từng gặp các vấn đề này cũng là yếu tố gia tăng nguy cơ. Ngoài ra, những ai hút thuốc lá (kể cả hút thụ động), uống rượu bia nhiều, lười vận động, ăn uống không khoa học, thường xuyên tiêu thụ thực phẩm chứa nhiều cholesterol cũng nằm trong nhóm đối tượng cần lưu tâm.
Phụ nữ sử dụng thuốc tránh thai dài ngày hoặc đang trong giai đoạn thay đổi nội tiết tố (như mãn kinh) cũng có thể gặp nguy cơ cao hơn, đặc biệt nếu từ 55 tuổi trở lên.










