Văn phòng Quốc hội vừa ban hành Văn bản hợp nhất số 112/VBHN-VPQH: Luật Thuế thu nhập cá nhân. Luật gồm 4 Chương, 29 Điều, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 quy định về người nộp thuế, thu nhập chịu thuế, thu nhập được miễn thuế, giảm thuế và căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân.
Tại Điều 8 quy định về thuế thu nhập cá nhân, nội dung về cách tính thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công. Theo đó, thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công được xác định bằng thu nhập tính thuế nhân với thuế suất tại biểu thuế lũy tiến từng phần.

Biểu thuế luỹ tiến từng phần
Thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công là tổng thu nhập chịu thuế mà người nộp thuế nhận được trừ đi các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp.
Thời điểm xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế hoặc thời điểm người nộp thuế nhận được thu nhập.
Bên cạnh đó, người nộp thuế còn được xem xét về mức giảm trừ gia cảnh. Số tiền này được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công. Trong đó, mức giảm trừ đối với người nộp thuế là 15,5 triệu đồng/tháng (186 triệu đồng/năm). Cụ thể:
Điều 10. Giảm trừ gia cảnh
1. Giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của người nộp thuế là cá nhân cư trú. Giảm trừ gia cảnh gồm:
a) Mức giảm trừ đối với người nộp thuế là 15,5 triệu đồng/tháng (186 triệu đồng/năm);
b) Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 6,2 triệu đồng/tháng.
2. Căn cứ biến động của giá cả, thu nhập, Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức giảm trừ gia cảnh quy định tại khoản 1 Điều này phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.
3. Việc xác định mức giảm trừ gia cảnh đối với người phụ thuộc thực hiện theo nguyên tắc mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một người nộp thuế.









