Emagazine

Xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa: Để nguồn lực chuyển hóa thành sức mạnh mềm bền vững

Thứ Ba, 29/09/2026 13:30:00 +07:00

(ĐS&PL) - Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, câu chuyện của Luật không chỉ là quản lý văn hóa tốt hơn, mà là tạo điều kiện để nguồn lực văn hóa của đất nước được chuyển hóa thành sản phẩm, tài sản, thương hiệu, thị trường và phát triển sức mạnh mềm một cách bền vững.

LTS: Yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới cùng thực tiễn đặt ra sự cần thiết phải xây dựng một đạo luật tiếp cận công nghiệp văn hóa từ góc độ phát triển kinh tế, thay vì chỉ quản lý hành chính như hiện nay. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, nhiều quốc gia đã coi công nghiệp văn hóa là ngành kinh tế chiến lược. Tại Việt Nam, Nghị quyết số 80-NQ/TW cũng đã mở ra một cách nhìn mới đó là văn hóa không đứng phía sau mà đồng hành và dẫn dắt sự phát triển.

Chính vì vậy, sớm hoàn thiện Luật Phát triển công nghiệp văn hóa là một yêu cầu cấp thiết về một đạo luật chuyên ngành, cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm hiện thực hóa chủ trương đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế. Xung quanh chủ đề này, ĐS&PL đã ghi nhận quan điểm, ý kiến của các chuyên gia, đại biểu Quốc hội, góp phần hoàn thiện khung pháp lý đưa công nghiệp văn hóa trở thành một động lực tăng trưởng của đất nước.

Cập nhật theo hồ sơ dự án Luật đến ngày 24/9/2026, PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội đã có những chia sẻ tâm huyết với Tạp chí Đời sống và Pháp luật xung quanh nội dung đang được dư luận quan tâm này.

Xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa: Để nguồn lực chuyển hóa thành sức mạnh mềm bền vững - 1

PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội. Ảnh: Quốc hội.

Xây dựng luật giải quyết được ba bài toán

ĐS&PL: Ông đánh giá thế nào về sự cần thiết ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa trong giai đoạn hiện nay?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Theo tôi, điều đáng chú ý nhất hiện nay là công nghiệp văn hóa đã đi ra khỏi phạm vi của một câu chuyện riêng của ngành văn hóa để trở thành một vấn đề của mô hình tăng trưởng. Khi một bộ phim, một trò chơi điện tử, một thiết kế, một sản phẩm thủ công, một lễ hội hay một di sản được tổ chức khai thác tốt có thể tạo ra doanh thu, việc làm, tài sản trí tuệ, dòng khách du lịch và đồng thời lan tỏa hình ảnh quốc gia, thì văn hóa đã tham gia trực tiếp vào quá trình tạo giá trị của nền kinh tế.

Trong nhiều năm, chúng ta đã có các quy định liên quan đến điện ảnh, di sản, sở hữu trí tuệ, đầu tư, thuế, đất đai, giáo dục, khoa học - công nghệ, du lịch... nhưng các quy định này chủ yếu điều chỉnh từng lĩnh vực riêng lẻ. Trong khi đó, bản chất của công nghiệp văn hóa lại là một chuỗi giá trị liên ngành: từ sáng tạo, hình thành tài sản trí tuệ, đầu tư sản xuất, phân phối, truyền thông, thương mại hóa, tiêu dùng đến tái đầu tư. Khoảng trống lớn vì vậy không hẳn nằm ở chỗ “thiếu luật” theo nghĩa số lượng, mà ở chỗ thiếu một khung pháp lý có khả năng kết nối những mắt xích đang bị chia cắt.

Từ góc độ đó, việc xây dựng một đạo luật chuyên biệt có ý nghĩa khi nó giải quyết được ba bài toán. Thứ nhất, xác lập rõ vị trí của công nghiệp văn hóa như một ngành kinh tế dựa trên sáng tạo và tài sản trí tuệ. Thứ hai, tháo gỡ những điểm nghẽn mà pháp luật chuyên ngành hiện hành chưa giải quyết được, nhất là về định giá và khai thác tài sản trí tuệ, tiếp cận vốn, hạ tầng sáng tạo, không gian công cộng, mô hình thử nghiệm và thị trường số xuyên biên giới. Thứ ba, tạo một môi trường để doanh nghiệp, nghệ sĩ, nhà sáng tạo, nhà đầu tư, cơ sở đào tạo và Nhà nước có thể cùng tham gia vào một hệ sinh thái thay vì hoạt động rời rạc.

Tất nhiên, giá trị của Luật sẽ không nằm ở số lượng điều khoản hay ở việc tạo thêm một tầng quản lý mới. Quan điểm đang được đặt ra trong quá trình hoàn thiện dự thảo là không làm phát sinh những thủ tục hành chính không cần thiết, không quy định lại những gì luật chuyên ngành đã quy định, mà tập trung vào “điểm mờ”, “khoảng trống”, “điểm nghẽn”. Đây là nguyên tắc rất quan trọng, bởi một đạo luật về công nghiệp văn hóa chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó mở đường cho sáng tạo chứ không làm sáng tạo phải đi qua thêm nhiều cánh cửa thủ tục.

Tôi cũng rất chú ý tới yêu cầu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về “phát triển công nghiệp văn hóa thành một động lực tăng trưởng mới, chuyển sức mạnh văn hóa thành năng lực cạnh tranh quốc gia”. Nhìn từ yêu cầu đó, câu chuyện của Luật không chỉ là quản lý văn hóa tốt hơn, mà là tạo điều kiện để nguồn lực văn hóa của đất nước được chuyển hóa thành sản phẩm, tài sản, thương hiệu, thị trường và sức mạnh mềm một cách bền vững.

Xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa: Để nguồn lực chuyển hóa thành sức mạnh mềm bền vững - 2
Xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa: Để nguồn lực chuyển hóa thành sức mạnh mềm bền vững - 3

Ảnh minh họa: VGP.

ĐS&PL: Theo những thông tin ông đã tiếp cận, ông có ấn tượng với những nội dung gì tại Dự thảo Luật? Vì sao?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Nếu nhìn vào phiên bản dự thảo đang được hoàn thiện đến ngày 24/9/2026, tôi thấy có mấy điểm đáng chú ý về cách tiếp cận.

Dự thảo hiện được cấu trúc thành 9 chương, 53 điều, tập trung vào sáu nhóm nội dung lớn: hệ sinh thái công nghiệp văn hóa; tài sản trí tuệ; nhân lực; hạ tầng; thị trường; tài chính và hỗ trợ, ưu đãi đầu tư. Cách cấu trúc này cho thấy tư duy lập pháp đã dịch chuyển từ quản lý từng hoạt động văn hóa riêng lẻ sang tổ chức các điều kiện để hình thành chuỗi giá trị.

Điểm thứ nhất là tư duy “hệ sinh thái”. Công nghiệp văn hóa không thể phát triển chỉ bằng một vài nghệ sĩ tài năng hay một số doanh nghiệp mạnh. Đằng sau một sản phẩm thành công phải có đào tạo, nghiên cứu, dữ liệu, công nghệ, tài chính, không gian sáng tạo, bảo hộ quyền, truyền thông, phân phối và thị trường. Khi luật nhìn thấy toàn bộ hệ sinh thái ấy, chính sách mới có cơ hội tác động đúng vào những điểm đang làm cho người sáng tạo phải “tự bơi”.

Điểm thứ hai là cách tiếp cận đối với tài sản trí tuệ. Tôi cho rằng đây là mắt xích đặc biệt quan trọng. Trong nền kinh tế sáng tạo, giá trị lớn nhất nhiều khi không nằm ở nhà xưởng hay máy móc mà nằm ở kịch bản, nhân vật, thương hiệu, thiết kế, bản ghi, dữ liệu, định dạng chương trình, trò chơi hay một câu chuyện văn hóa có thể phát triển thành nhiều sản phẩm. Nếu tài sản trí tuệ chỉ được nhìn như đối tượng cần bảo hộ mà chưa được nhận diện, định giá, quản trị, khai thác, chuyển giao và sử dụng như một nguồn lực kinh tế, thì chúng ta chưa đi hết logic của công nghiệp văn hóa.

Điểm thứ ba là các quy định hướng tới hạ tầng và thị trường. Tôi đặc biệt quan tâm đến khả năng hình thành các cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa; cơ chế sử dụng phù hợp không gian công cộng; cơ sở dữ liệu quốc gia; xúc tiến thị trường, xuất khẩu, thương hiệu; và việc tạo điều kiện thử nghiệm có kiểm soát đối với mô hình mới. Đây là những công cụ có thể giúp sáng tạo rời khỏi phạm vi của những dự án đơn lẻ để trở thành một năng lực sản xuất có quy mô.

Tuy nhiên, chính vì dự thảo có nhiều chính sách mới nên khâu hoàn thiện cần đặc biệt chú ý tính đồng bộ với Luật Sở hữu trí tuệ, pháp luật về đầu tư, thuế, ngân sách, giáo dục, khoa học - công nghệ và các luật chuyên ngành văn hóa. Ý kiến thẩm tra gần đây cũng đặt ra yêu cầu phải xác định rõ đối tượng áp dụng, nhất là các nền tảng, chủ thể nước ngoài cung cấp sản phẩm và dịch vụ vào thị trường Việt Nam; đánh giá kỹ tác động ngân sách của các ưu đãi; và chỉ giữ trong luật những vấn đề thật sự cần thiết, đủ rõ, đủ chín. Theo tôi, đây chính là cách để một đạo luật mới vừa có tính mở, vừa tránh chồng chéo và bảo đảm khả thi.

Xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa: Để nguồn lực chuyển hóa thành sức mạnh mềm bền vững - 4
Xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa: Để nguồn lực chuyển hóa thành sức mạnh mềm bền vững - 5

Ảnh minh họa: VGP và Trần Huấn/báo Văn hóa.

Biến "tài nguyên văn hóa" thành "tài sản phát triển"

ĐS&PL: Theo ông, để phát huy tài nguyên văn hóa, kết hợp với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và tài sản trí tuệ để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có giá trị kinh tế và xã hội, từ đó góp phần phát triển con người, bảo tồn, phát huy bản sắc dân tộc, hướng tới nâng cao năng lực cạnh tranh và sức mạnh mềm quốc gia, thì cần những yếu tố nào? Điều gì trong đó là trọng tâm, quan trọng nhất?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Tôi thường hình dung quá trình này như việc biến “tài nguyên văn hóa” thành “tài sản phát triển”. Giữa hai trạng thái đó có một khoảng cách rất lớn. Một di sản quý, một làng nghề lâu đời, một câu chuyện lịch sử hay một tài năng nghệ thuật tự thân chưa tạo ra công nghiệp văn hóa. Giá trị chỉ được mở rộng khi có năng lực sáng tạo để kể lại câu chuyện đó bằng ngôn ngữ của hôm nay, có công nghệ để tạo ra sản phẩm mới, có cơ chế sở hữu trí tuệ để bảo vệ giá trị, có vốn để sản xuất, có thị trường để phân phối và có thương hiệu để đi xa.

Theo cách nhìn đó, có năm nhóm điều kiện cần đi cùng nhau. Một là thể chế đủ rõ và đủ mở để giải phóng sức sáng tạo, bảo vệ quyền hợp pháp nhưng không tạo ra chi phí tuân thủ quá lớn. Hai là nguồn nhân lực sáng tạo có khả năng làm việc liên ngành giữa văn hóa, nghệ thuật, kinh doanh và công nghệ. Ba là hệ thống tài sản trí tuệ đủ mạnh, từ khâu nhận diện, bảo hộ, định giá đến thương mại hóa. Bốn là hạ tầng vật chất và hạ tầng số, bao gồm không gian sáng tạo, dữ liệu, nền tảng công nghệ, studio, trung tâm biểu diễn, sản xuất và phân phối. Năm là thị trường và năng lực kinh doanh, bởi sản phẩm dù giàu giá trị văn hóa đến đâu cũng cần tìm được công chúng, khách hàng và mô hình doanh thu bền vững.

Nếu phải xác định một hạt nhân xuyên suốt, tôi cho rằng đó là con người sáng tạo và năng lực biến sáng tạo thành tài sản trí tuệ có thể đi vào chuỗi giá trị. Công nghệ có thể thay đổi rất nhanh, vốn có thể được huy động từ nhiều nguồn, hạ tầng có thể đầu tư theo thời gian, nhưng nếu không có con người hiểu văn hóa của mình, có năng lực sáng tạo và có khả năng làm việc với công nghệ, thị trường thì nguồn tài nguyên lớn đến đâu cũng khó trở thành giá trị mới.

Tuy nhiên, để con người sáng tạo phát huy được năng lực, thể chế lại giữ vai trò như một “hệ điều hành”. Một thể chế tốt phải làm được hai việc tưởng như trái chiều: bảo vệ những giá trị không thể đánh đổi của văn hóa, đồng thời tạo không gian đủ rộng cho thử nghiệm, khác biệt và chấp nhận rủi ro sáng tạo. Công nghiệp văn hóa không thể phát triển nếu chỉ nhấn mạnh thương mại hóa; nhưng cũng không thể trở thành một ngành kinh tế nếu chỉ dừng ở bảo tồn và cấp phát.

Điều cuối cùng tôi muốn nhấn mạnh là không nên hiểu việc khai thác tài nguyên văn hóa theo nghĩa “đem di sản ra bán”. Mục tiêu phải là gia tăng giá trị của di sản và bản sắc thông qua sáng tạo. Một sản phẩm công nghiệp văn hóa tốt phải tạo ra đồng thời ít nhất ba giá trị: giá trị kinh tế, giá trị xã hội và giá trị văn hóa. Nếu tăng doanh thu nhưng làm nghèo bản sắc, hoặc bảo tồn hình thức mà không tạo thêm sinh kế, cơ hội sáng tạo và khả năng tiếp cận của công chúng, thì chuỗi giá trị đó chưa thật sự bền vững.

Xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa: Để nguồn lực chuyển hóa thành sức mạnh mềm bền vững - 6
Xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa: Để nguồn lực chuyển hóa thành sức mạnh mềm bền vững - 7
Xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa: Để nguồn lực chuyển hóa thành sức mạnh mềm bền vững - 8

“V Concert - Rạng rỡ Việt Nam” năm 2025. Nguồn ảnh: VTV.vn.

ĐS&PL: Ông đánh giá thế nào về vai trò của Nhà nước trong việc kiến tạo, dẫn dắt, tạo môi trường thuận lợi để các chủ thể cùng tham gia vào toàn bộ chuỗi giá trị?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Trong công nghiệp văn hóa, Nhà nước rất quan trọng, nhưng không phải với tư cách là chủ thể làm thay thị trường hay làm thay người sáng tạo. Vai trò phù hợp hơn là kiến tạo luật chơi, đầu tư vào những nền tảng mà thị trường khó tự đầu tư đầy đủ, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh và khắc phục những thất bại của thị trường.

Trước hết, Nhà nước cần tạo ra một môi trường pháp lý ổn định và có thể dự đoán. Với doanh nghiệp sáng tạo, điều họ cần không chỉ là ưu đãi, mà còn là biết rõ quyền của mình được bảo vệ thế nào, tài sản trí tuệ được định giá và khai thác ra sao, đầu tư vào hạ tầng sáng tạo theo cơ chế nào, sử dụng không gian công cộng thế nào, thủ tục nào thực sự cần thiết và thủ tục nào có thể số hóa hoặc chuyển sang hậu kiểm. Sự minh bạch và ổn định của luật chơi nhiều khi quan trọng hơn một ưu đãi ngắn hạn.

Thứ hai, Nhà nước có vai trò đầu tư và tổ chức những hạ tầng nền tảng: dữ liệu văn hóa, số hóa di sản, thiết chế văn hóa, không gian công cộng, hạ tầng số, đào tạo cơ bản, nghiên cứu và xúc tiến quốc gia. Đây là những cấu phần tạo ra lợi ích lan tỏa lớn cho xã hội nhưng khu vực tư nhân có thể không đủ động lực để tự đầu tư từ đầu. Khi những nền tảng này mở và có khả năng kết nối, doanh nghiệp và người sáng tạo mới có “nguyên liệu” để phát triển sản phẩm.

Thứ ba, Nhà nước cần đóng vai trò “người mua thông minh” và “người đặt hàng thông minh”. Thay vì bao cấp theo đầu vào, có thể tăng các cơ chế đặt hàng, đấu thầu, đồng tài trợ, mua quyền sử dụng hoặc hỗ trợ theo kết quả, từ đó vừa bảo đảm mục tiêu công vừa kích thích cạnh tranh về chất lượng. Đối với những dự án có rủi ro cao nhưng tiềm năng lan tỏa lớn, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, quỹ hỗ trợ hoặc công cụ chia sẻ rủi ro có thể là những phương án đáng xem xét, nhưng cần tiêu chí rõ, công khai và cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích.

Thứ tư, Nhà nước cần bảo vệ thị trường nội địa trong nghĩa tích cực: thực thi bản quyền hiệu quả, chống cạnh tranh không lành mạnh, bảo đảm nghĩa vụ tương xứng giữa doanh nghiệp trong nước và nền tảng xuyên biên giới, đồng thời hỗ trợ sản phẩm Việt tiếp cận thị trường quốc tế. Trong môi trường số, nếu luật chỉ điều chỉnh được chủ thể trong nước mà không tính tới các nền tảng cung cấp dịch vụ xuyên biên giới thì chuỗi giá trị sẽ bị lệch ngay từ khâu phân phối.

Tóm lại, Nhà nước mạnh không đồng nghĩa với Nhà nước làm nhiều hơn, mà là Nhà nước làm đúng những việc thị trường không thể tự làm tốt và tạo điều kiện để xã hội làm tốt những việc xã hội có khả năng làm. Khi đó, khu vực công giữ vai trò kiến tạo, doanh nghiệp tổ chức sản xuất và mở rộng thị trường, còn nghệ sĩ và nhà sáng tạo có không gian để tạo ra cái mới.

Xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa: Để nguồn lực chuyển hóa thành sức mạnh mềm bền vững - 9
Xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa: Để nguồn lực chuyển hóa thành sức mạnh mềm bền vững - 10
Xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa: Để nguồn lực chuyển hóa thành sức mạnh mềm bền vững - 11

Du khách tới du lịch tại Đà Nẵng. Ảnh minh họa: Đỗ Giang.

ĐS&PL: Vai trò của chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trong phát triển công nghiệp văn hóa, theo quan điểm của ông, như thế nào?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo không chỉ là một công cụ hỗ trợ công nghiệp văn hóa; trong nhiều lĩnh vực, chúng đang làm thay đổi chính cấu trúc của ngành. Công nghệ số tác động đồng thời vào cách sáng tạo, cách sản xuất, cách phân phối, cách tiêu dùng và cách đo lường giá trị văn hóa.

Trước hết, số hóa làm mở rộng khả năng tiếp cận tài nguyên văn hóa. Khi di sản, tư liệu, hình ảnh, âm thanh, bản đồ, hoa văn, câu chuyện dân gian hay dữ liệu bảo tàng được số hóa có hệ thống và gắn với cơ chế quyền rõ ràng, chúng có thể trở thành nguồn nguyên liệu cho điện ảnh, hoạt hình, trò chơi, thiết kế, giáo dục, du lịch và nhiều sản phẩm mới. Giá trị của số hóa vì thế không nằm ở việc tạo ra thật nhiều tệp dữ liệu, mà ở khả năng hình thành tri thức số và những tài sản trí tuệ mới từ dữ liệu đó.

Thứ hai, công nghệ làm giảm đáng kể chi phí gia nhập thị trường. Một nhà sáng tạo trẻ hôm nay có thể sản xuất âm nhạc, video, thiết kế, trò chơi hay nội dung số và tiếp cận công chúng toàn cầu mà không nhất thiết phải đi qua toàn bộ hệ thống trung gian truyền thống. Điều này mở ra cơ hội rất lớn cho các doanh nghiệp nhỏ, nhóm sáng tạo độc lập và các địa phương. Nhưng đồng thời, nó cũng đặt ra thách thức về bản quyền, thuật toán phân phối, dữ liệu, quyền thương lượng với nền tảng và sự lệ thuộc vào những hệ sinh thái công nghệ xuyên biên giới.

Thứ ba, trí tuệ nhân tạo đang tạo ra một lớp vấn đề hoàn toàn mới. AI có thể hỗ trợ viết kịch bản, dựng hình, dịch thuật, thiết kế, hậu kỳ, phân tích thị trường và cá nhân hóa trải nghiệm. Nhưng nó cũng đặt ra câu hỏi về nguồn dữ liệu huấn luyện, quyền tác giả, quyền đối với hình ảnh và giọng nói, tính xác thực của sản phẩm, phân chia lợi ích giữa công nghệ và người sáng tạo. Vì vậy, chính sách cần vừa tạo không gian cho đổi mới, vừa giữ được nguyên tắc bảo vệ con người sáng tạo và lợi ích công.

Thứ tư, chuyển đổi số giúp quản trị ngành bằng dữ liệu. Công nghiệp văn hóa lâu nay gặp khó ở khâu thống kê, đo lường và đánh giá đóng góp. Một cơ sở dữ liệu có khả năng kết nối từ Trung ương đến địa phương, cùng bộ chỉ số hợp lý, sẽ giúp chúng ta biết ngành nào đang tăng trưởng, thị trường nào đang mở rộng, địa phương nào có lợi thế, nguồn lực nào đang bị bỏ quên. Chính sách khi đó sẽ bớt dựa vào cảm tính và chuyển dần sang dựa trên bằng chứng.

Theo tôi, điều quan trọng là không đồng nhất chuyển đổi số với việc đưa những gì đang có lên mạng. Chuyển đổi số thực sự phải làm xuất hiện mô hình kinh doanh mới, cách tiếp cận công chúng mới, phương thức sáng tạo mới và giá trị mới. Nếu công nghệ chỉ làm cho quy trình cũ nhanh hơn thì mới là số hóa; nếu công nghệ giúp tạo ra một cách làm khác và một thị trường khác, khi đó mới thật sự là chuyển đổi.

Để có một ngành công nghiệp văn hóa chất lượng

ĐS&PL: Ông có thể chia sẻ những “gợi ý” mang tính định hướng để chúng ta có một ngành công nghiệp văn hóa chất lượng, có khả năng thương mại hóa, xuất khẩu, tạo giá trị kinh tế đồng thời bảo đảm bản sắc văn hóa Việt Nam trong tương lai không xa?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Tôi cho rằng có thể hình dung một số hướng lớn theo logic từ “tài nguyên” đến “thị trường”.

Trước hết là lựa chọn những lĩnh vực và sản phẩm có khả năng tạo hiệu ứng dẫn dắt. Việt Nam không nhất thiết phải làm tất cả cùng một lúc. Mỗi địa phương cũng không nên phát triển công nghiệp văn hóa theo một công thức giống nhau. Nơi có di sản mạnh có thể đi từ di sản, du lịch văn hóa, thủ công và thiết kế; nơi có nguồn nhân lực công nghệ mạnh có thể phát triển trò chơi, nội dung số, thiết kế sáng tạo; các đô thị lớn có thể hình thành các cụm sáng tạo, thị trường nghệ thuật, điện ảnh, âm nhạc, thời trang, quảng cáo. Điều cần hướng tới là lợi thế khác biệt và khả năng hình thành chuỗi giá trị, chứ không phải phong trào gắn nhãn “công nghiệp văn hóa”.

Thứ hai là xây dựng và phát triển tài sản trí tuệ Việt Nam. Muốn xuất khẩu văn hóa, chúng ta cần có những IP đủ mạnh: nhân vật, câu chuyện, định dạng, thương hiệu, thiết kế, trò chơi, tác phẩm và hệ thống biểu tượng có khả năng phát triển thành nhiều lớp sản phẩm. Một bộ phim thành công có thể đi tiếp thành âm nhạc, du lịch, thời trang, trò chơi, hàng lưu niệm, xuất bản và trải nghiệm. Khi đó, giá trị không còn nằm trong một sản phẩm đơn lẻ mà nằm trong khả năng khai thác dài hạn của tài sản trí tuệ.

Thứ ba là phát triển doanh nghiệp và nguồn vốn phù hợp với đặc thù sáng tạo. Công nghiệp văn hóa có tỷ lệ rủi ro cao, giá trị tài sản vô hình lớn và thời gian hoàn vốn rất khác các ngành sản xuất truyền thống. Vì vậy, thị trường vốn, tín dụng, quỹ đầu tư và các công cụ hỗ trợ cần hiểu được đặc điểm của tài sản trí tuệ. Đồng thời phải tạo môi trường để doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhỏ, startup và nhà đầu tư chuyên nghiệp tham gia sâu hơn vào toàn bộ chuỗi giá trị.

Thứ tư là coi thị trường quốc tế là một phần của chiến lược ngay từ đầu. Xuất khẩu sản phẩm văn hóa không chỉ là đem một sản phẩm đã hoàn thành đi giới thiệu ở nước ngoài, mà phải tính tới ngôn ngữ, tiêu chuẩn, bản quyền, mạng lưới phân phối, nền tảng, đối tác bản địa, dữ liệu thị trường và chiến lược thương hiệu ngay từ khâu phát triển sản phẩm. Nhà nước có thể hỗ trợ xúc tiến, dữ liệu, kết nối, bảo hộ quyền và thương hiệu quốc gia; doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về chất lượng, mô hình kinh doanh và sức cạnh tranh.

Thứ năm là đặt bản sắc trong quá trình sáng tạo chứ không đặt bản sắc như một “chiếc tem” dán lên sản phẩm ở cuối quy trình. Bản sắc không có nghĩa là sản phẩm nào cũng phải dùng họa tiết truyền thống hay kể câu chuyện lịch sử. Điều sâu hơn là sản phẩm thể hiện được cách nhìn, cảm xúc, thẩm mỹ và hệ giá trị của con người Việt Nam bằng một ngôn ngữ mà công chúng đương đại và công chúng quốc tế có thể tiếp nhận. Bản sắc càng sống động khi nó có khả năng đối thoại với cái mới.

Và cuối cùng, cần một hệ thống đo lường đủ tốt. Nếu chỉ tính số sự kiện, số chương trình hay số người tham dự, chúng ta chưa nhìn thấy công nghiệp văn hóa. Cần đo cả doanh thu, việc làm, xuất khẩu, tài sản trí tuệ, mức đầu tư tư nhân, năng suất, số lượng doanh nghiệp sáng tạo, mức độ tiếp cận văn hóa của người dân và sức lan tỏa quốc tế của sản phẩm Việt Nam.

Đích đến, theo tôi, là hình thành một hệ sinh thái trong đó người sáng tạo có thể sống được bằng sáng tạo; doanh nghiệp nhìn thấy cơ hội kinh doanh dài hạn; Nhà nước có công cụ quản trị hiện đại; người dân được thụ hưởng nhiều sản phẩm văn hóa chất lượng; và bản sắc Việt Nam không chỉ được bảo tồn trong ký ức mà tiếp tục sinh thành trong những sản phẩm mới. Khi văn hóa vừa nuôi dưỡng con người, vừa tạo việc làm, thị trường, tài sản và uy tín quốc gia, khi đó sức mạnh mềm mới trở thành một năng lực phát triển thực sự.

ĐS&PL: Trân trọng cảm ơn ông! 

Dương Thu
Link bài gốc Lấy link
https://doisongphapluat.nguoiduatin.vn/xay-dung-luat-phat-trien-cong-nghiep-van-hoa-e-nguon-luc-chuyen-hoa-thanh-suc-manh-mem-ben-vung-a665208.html

Cảm ơn bạn đã quan tâm đến nội dung trên.

Hãy tặng sao để tiếp thêm động lực cho tác giả có những bài viết hay hơn nữa.

Đã tặng:
Tặng quà tác giả
BÌNH LUẬN
Bình luận sẽ được xét duyệt trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.
Tin liên quan