Mở rộng nguồn tuyển nhưng chưa trúng "tâm điểm" thiếu hụt
Liên quan đến việc Bộ GD&ĐT vừa ban hành thông tư 91 quy định chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho người có nguyện vọng trở thành giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông, phóng viên Đời sống và Pháp luật đã có trao đổi với GS.TS.NGƯT Nguyễn Quý Thanh, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội.
ĐSPL: Theo Giáo sư việc mở rộng đối tượng đào tạo nghiệp vụ sư phạm có phải là giải pháp cấp thiết để giải quyết tình trạng thiếu giáo viên hiện nay hay không?
GS Nguyễn Quý Thanh: Nhìn nhận một cách thẳng thắn, câu trả lời cho vấn đề này là vừa có, vừa không.
Về mặt tích cực, xét dưới góc độ cấu trúc cung cầu nhân lực giáo dục, việc Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 91 cho phép người có bằng cử nhân hoặc sinh viên đã tích lũy tối thiểu 70% khối lượng học tập đại học thuộc ngành phù hợp tham gia chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm là một giải pháp tình thế mang tính phản ứng nhanh rất cần thiết. Bước đi này giúp khơi thông dòng chảy nhân lực từ khu vực ngoài sư phạm vào hệ thống giáo dục phổ thông, mở ra cơ hội thu hút những người có nguyện vọng chuyển sang ngành giáo dục.
Tuy nhiên, đây không thể xem là một "liều thuốc tiên" giải quyết dứt điểm cơn khủng hoảng nhân lực hiện tại bởi sự lệch pha cung - cầu nghiêm trọng trên thực tế. Các môn học đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt giáo viên trầm trọng theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 lại là những môn đặc thù như Tin học, Công nghệ, Nghệ thuật bao gồm Âm nhạc, Mĩ thuật hay Ngoại ngữ. Đây lại chính là những lĩnh vực mà nguồn nhân lực xã hội ngoài sư phạm ít có nguyện vọng chuyển sang làm giáo dục, hoặc nếu có thì thu nhập từ thị trường tự do của họ cũng cao hơn nhiều so với ngành giáo dục nên họ không mặn mà đăng ký học nghiệp vụ sư phạm.
Ngược lại, nguồn cử nhân đăng ký tham gia các khóa học này chủ yếu lại thuộc khối ngành mà cơ hội việc làm tốt là Toán học, Ngữ văn. Đây là những lĩnh vực mà các trường phổ thông hiện nay đã tương đối bão hòa hoặc không xảy ra tình trạng thiếu hụt cục bộ quá lớn. Vì vậy, việc mở rộng nguồn tuyển chỉ giải quyết được phần nào bề nổi của tảng băng chìm chứ chưa trúng vào các "tâm điểm" thiếu hụt.
Gỡ nút thắt thiếu giáo viên, không thể chỉ trông chờ vào đào tạo nghiệp vụ sư phạm. Ảnh: Lê Liên
ĐSPL: Giáo sư có thể cho biết tình trạng thiếu giáo viên xuất phát từ thiếu nguồn tuyển hay những bất cập trong cơ chế tuyển dụng, phân bổ và đãi ngộ? Chính sách mới có giải quyết được gốc rễ vấn đề?
GS Nguyễn Quý Thanh: Tình trạng thiếu giáo viên hiện nay hoàn toàn không đơn thuần xuất phát từ việc thiếu nguồn tuyển thô, mà là hệ quả đan xen của nhiều nguyên nhân mang tính cấu trúc lâu nay.
Trước hết, đó là sự hụt hẫng trong công tác quy hoạch nhân lực giáo viện trung hàn và dài hạn. Việc dự báo nhu cầu giáo viên theo từng cấp học, từng môn học gắn với sự thay đổi quy mô dân số và lộ trình đổi mới chương trình đôi khi còn chậm nhịp so với thực tế phát triển. Bên cạnh đó, áp lực nghề nghiệp ngày càng gia tăng cùng với thái độ ứng xử của một bộ phận xã hội đối với nhà giáo đã tạo nên một áp lực tâm lý không nhỏ. Nhiều thầy cô cảm thấy mình thiếu cơ chế bảo vệ thỏa đáng trước các rủi ro nghề nghiệp, dẫn đến tâm lý e ngại..
Cuối cùng, không thể không nhắc đến một số bất cập còn tồn tại cần cải thiện như như chính sách đào tạo giáo viên, cơ chế tuyển dụng, chế độ tiền lương vv... Cơ chế tuyển dụng ở một số địa phương vẫn còn cứng nhắc, thủ tục hành chính phức tạp, làm giảm tính thu hút đối với các nhân tài ngoài hệ thống.
Đặt trong bức tranh tổng thể đó, một văn bản mang tính kỹ thuật chuyên môn như Thông tư 91/2026/TT-BGDĐT là một động thái tích cực, nhưng chưa thể giải quyết triệt để gốc rễ của vấn đề. Thông tư này đóng vai trò mở hành lang pháp lý, tạo ra một chương trình bồi dưỡng chuẩn hóa với 32 tín chỉ nhằm giúp người học đáp ứng điều kiện về mặt chứng chỉ. Tuy nhiên, nó chỉ giải quyết được khâu đầu vào về mặt hồ sơ thủ tục, còn các bài toán gốc rễ liên quan đến thu nhập, môi trường làm việc, vị thế xã hội và công tác quy hoạch chiến lược dài hạn vẫn cần những giải pháp tổng thể ở cấp chính sách vĩ mô hơn.
Bài toán thiếu giáo viên, cần nhiều hơn một chính sách đào tạo. Ảnh: MOET
Cần kiểm soát chặt chất lượng đào tạo
ĐSPL: Liệu chương trình đào tạo nghiệp vụ sư phạm có đủ trang bị năng lực cần thiết để một cử nhân chuyên ngành khác trở thành giáo viên phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục?
GS Nguyễn Quý Thanh: Trong khoa học giáo dục, việc cho rằng một cử nhân khoa học cơ bản giỏi chuyên môn khi trang bị thêm một chứng chỉ ngắn hạn sẽ tự nhiên trở thành một giáo viên giỏi đứng lớp là một cách hiểu đáng quan ngại. Kiến thức chuyên môn sâu chắc chắn là điều kiện cần, nhưng hoàn toàn không phải là điều kiện đủ đối với một nhà giáo.
Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm ngắn hạn như khung 32 tín chỉ hiện hành chỉ mang tính chất giải quyết tình huống cấp bách, trang bị những kỹ năng nền tảng nhất để một người biết cách xây dựng kế hoạch bài dạy, quản lý lớp học và nắm bắt tâm lý học sinh.
Nếu phân tích qua lăng kính của mô hình TPACK, một mô hình kinh điển trên thế giới về năng lực nhà giáo hiện đại một giáo viên thành công phải dung hòa được ba thành tố cốt lõi bao gồm: kiến thức Nội dung (CK), kiến thức Sư phạm (PK) và kiến thức Công nghệ (TK), cùng các vùng giao thoa phức tạp của chúng.
Một cử nhân bước ra từ ngành khác thường chỉ vững về kiến thức nội dung. Họ có tri thức khoa học hàn lâm nhưng lại thiếu hụt trầm trọng Kiến thức Sư phạm, tức là không biết cách chuyển hóa các khái niệm chuyên môn phức tạp thành bài giảng phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi học sinh.
Thêm vào đó, trong bối cảnh đổi mới giáo dục và chuyển đổi số, việc tích hợp công nghệ vào phương pháp giảng dạy – một điểm mà Thông tư 91/2026/TT-BGDĐT đã đưa vào thông qua học phần Sư phạm số – là một thử thách rất lớn đối với những người chưa từng trải qua quá trình đào tạo sư phạm bài bản và dài hạn.
GS.TS.NGƯT Nguyễn Quý Thanh, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: NVCC
ĐSPL: Làm thế nào để bảo đảm chất lượng giáo viên, tránh tình trạng mở rộng nguồn tuyển nhưng chất lượng đào tạo và năng lực đứng lớp không được kiểm soát chặt chẽ?
GS Nguyễn Quý Thanh: Để việc mở rộng màng lọc đầu vào không làm giảm chất lượng mặt bằng chung của đội ngũ nhà giáo, các cơ quan quản lý và các cơ sở đào tạo cần tập trung kiểm soát chặt chẽ chất lượng thông qua hai trụ cột chính.
Thứ nhất, cần thực chất hóa và nâng cao thời lượng thực hành sư phạm. Trong chương trình bồi dưỡng, phần thực tập tại các trường phổ thông không được phép làm qua loa hay mang tính hình thức. Người học cần phải có đủ thời gian cọ xát với môi trường lớp học thực tế, trực tiếp tham gia giảng dạy, xử lý tình huống sư phạm và nhận được sự hướng dẫn, góp ý sát sao từ các giáo viên cốt cán giàu kinh nghiệm tại trường phổ thông. Quá trình đánh giá thực tập phải dựa trên năng lực đứng lớp thực tế chứ không chỉ dừng lại ở hồ sơ, giáo án trên giấy.
Thứ hai, phải chú trọng bồi đắp căn cốt đạo đức nghề giáo và tâm lý học đường. Nghề dạy học đòi hỏi sự kiên nhẫn, tình thương yêu học trò và những chuẩn mực đạo đức rất riêng. Một cử nhân chuyên ngành khác khi rẽ hướng sang sư phạm có thể tiếp thu nhanh các kỹ năng giảng dạy, nhưng nếu không được quán triệt sâu sắc về đạo đức nghề nghiệp, về trách nhiệm bảo vệ và đồng hành cùng học sinh, họ sẽ rất dễ bị khủng hoảng hoặc có hành vi lệch chuẩn khi gặp áp lực thực tế. Việc siết chặt đánh giá thái độ, tác phong và đạo đức sư phạm ngay trong quá trình đào tạo là màng lọc bắt buộc để bảo đảm uy tín của ngành.
Đãi ngộ và quy hoạch mới là giải pháp lâu dài
ĐSPL: Vậy theo GS, cần có những chính sách bổ trợ nào để việc mở rộng đào tạo nghiệp vụ sư phạm không chỉ là giải pháp tình thế mà thực sự góp phần giải quyết bài toán thiếu giáo viên lâu dài?
GS Nguyễn Quý Thanh: Để mở rộng đào tạo nghiệp vụ sư phạm trở thành một mắt xích hiệu quả trong chiến lược phát triển nhân lực dài hạn, nhà nước cần thực hiện đồng bộ nhiều chính sách bổ trợ mang tính vĩ mô.
Trước hết, phải quay trở lại giải bài toán quy hoạch nhân lực giáo dục một cách khoa học. Các cơ quan quản lý cần có hệ thống dự báo nhu cầu giáo viên dài hạn trong khoảng 5, 10 đến 20 năm tới dựa trên số liệu biến động dân số, tốc độ đô thị hóa và sự dịch chuyển lao động giữa các vùng miền. Trên cơ sở đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo mới có thể giao chỉ tiêu đào tạo và bồi dưỡng một cách linh hoạt, sát với thực tế của từng địa phương, tránh tình trạng đào tạo tự do dẫn đến nơi thừa vẫn thừa, nơi thiếu vẫn thiếu.
Bên cạnh đó, chính sách đãi ngộ phải được cải thiện một cách thực chất và vượt trội. Tiền lương và phụ cấp nghề nghiệp của nhà giáo cần được thiết kế tương xứng với công sức bỏ ra, đặc biệt là phải có các chính sách ưu đãi tài chính đủ mạnh để thu hút lực lượng lao động giỏi chuyên môn ở các ngành như Tin học, Ngoại ngữ, Nghệ thuật chuyển sang làm giáo dục.
Sau cùng, cần tạo ra một môi trường làm việc nhân văn, linh hoạt và thích ứng. Các trường phổ thông cần được trao quyền tự chủ cao hơn trong việc tuyển dụng và đánh giá nhân sự, đồng thời xã hội và các cơ quan quản lý cần có cơ chế bảo vệ danh dự, uy tín của thầy cô trước những áp lực không đáng có. Chỉ khi môi trường giáo dục thực sự trân trọng và tôn vinh nhà giáo, việc mở rộng nguồn tuyển mới tạo ra được sức hút bền vững chứ không dừng lại ở một giải pháp ứng phó tạm thời.
ĐSPL: Xin trân trọng cảm ơn GS.