Dòng sự kiện
      +Aa-
      Zalo

      Loại lá từng bị bỏ đi không ai lấy, bất ngờ được "săn lùng" với giá đắt đỏ

      (ĐS&PL) - Lá tre từng bị coi là phế phẩm, thường bỏ đi hoặc nếu bán thì cũng "rẻ như cho". Nhưng, sang tới nước ngoài lại được bán với giá cao ngất ngưởng.

      Lá cây Việt "lên đời"

      Số liệu từ Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho thấy, trong 11 tháng năm 2025, kim ngạch xuất khẩu các loại lá đạt khoảng 11,8 triệu USD (tương đương hơn 310 tỷ đồng), cao hơn 13,6% so với cùng kỳ năm ngoái. 

      Trong đó, lá sắn là mặt hàng chủ lực với hơn 3,5 triệu USD, tăng 7,4% so với cùng kỳ. Lá sắn hiện có thị trường tiêu thụ chủ yếu tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) và một số nước Hồi giáo. Tại đây, loại lá này được sử dụng trong các món cà ri, rau hầm thịt. 

      Xuất khẩu lá nguyệt quế cũng ghi nhận mức tăng khá ấn tượng với 9%, đạt 1,4 triệu USD. Các sản phẩm lá nguyệt quế Việt Nam đang được tiêu thụ mạnh tại Ấn Độ, Bangladesh, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ và các nước châu Âu. Xuất khẩu tăng nhanh cho thấy loại nông sản tưởng chừng bình thường này đã có vị thế mới trên thị trường quốc tế.

      Đáng chú ý, mức tăng mạnh nhất thuộc về lá tre, tăng 18,7% so với cùng kỳ. Ở Việt Nam, lá tre thường bị bỏ đi. Một số người dùng lá tre cùng với một số lá có tinh dầu cho mùi thơm như lá sả, lá hương nhu, lá khuynh diệp làm thuốc xông hơi trị cảm mạo. Tuy nhiên, những năm gần đây, lá tre đang trở thành mặt hàng xuất khẩu đem lại thu nhập khả quan cho người dân. 

      Năm 2025, xuất khẩu lá tre ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng. (Ảnh: Dân Việt).

      Năm 2025, xuất khẩu lá tre ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng. (Ảnh: Dân Việt).

      Ghi nhận của Dân Trí trên các sàn thương mại điện tử quốc tế như Alibaba, lá tre được chào bán với mức giá khá đa dạng. Với đơn hàng số lượng lớn từ vài trăm kg, giá lá tre tươi hoặc khô phổ biến khoảng 1-5 USD/kg (26.000-132.000 đồng/kg), tùy chủng loại và quy mô đặt mua. Một số sản phẩm bán lẻ hoặc loại đặc thù có giá cao hơn, dao động 6-7 USD/kg (157.000-185.000 đồng/kg), thậm chí 10 USD/kg (263.000 đồng/kg).

      Loại lá tre được thu mua để xuất khẩu là tre bát độ hay còn gọi là tre bương. Tre bát độ rất khác với lá tre thường, chúng có kích cỡ to hơn hẳn. Tre bát độ là loại cây mọc hoang, xuất hiện rất nhiều ở vùng cao và cả đồng bằng.  Hiện, ở Yên Bái, Bắc Ninh, Thanh Hóa, Sóc Sơn (Hà Nội) có rất nhiều người dân trồng tre bát độ để xuất khẩu. 

      Lá tre sẽ được người dân thu hái sau đó bán cho các cơ sở thu mua. Chúng được làm sạch bằng phương pháp tự nhiên, không dùng hóa chất. Sau đó lá tre sẽ được chuyển cho thương lái và xuất khẩu sang Đài Loan (Trung Quốc), Nhật Bản... để làm vật liệu gói bánh, gói thực phẩm, trang trí thức ăn. Lá tre của Việt Nam được người tiêu dùng ở nhiều nước ưa chuộng vì có mùi thơm đặc trưng, để được lâu.

      Khi nông sản Việt biết làm mới mình

      Theo ông Đặng Phúc Nguyên - Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, các sản phẩm nhóm lá là thị trường ngách, chủ yếu xuất khẩu sang khu vực Trung Đông để phục vụ các món ăn đặc trưng như cà ri. Doanh nghiệp tham gia phân khúc này cần đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt, đặc biệt là chứng nhận Halal theo tiêu chuẩn của các thị trường Hồi giáo. Phần lớn lá sắn và lá nguyệt quế được xuất khẩu dưới dạng sấy khô.

      Ngoài ra, một số loại lá khác như lá chuối, lá dong cũng được xuất khẩu ở dạng tươi hoặc đông lạnh, chủ yếu phục vụ nhu cầu gói bánh và tiêu dùng của cộng đồng người Việt tại nước ngoài. Dù giá trị đơn lẻ không lớn, các mặt hàng này đang góp phần mở rộng dư địa tăng trưởng, nâng cao tính đa dạng và bền vững cho ngành rau quả Việt Nam trong thời gian tới.

      Câu chuyện “những chiếc lá đi Tây" càng có ý nghĩa hơn khi đặt trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn từng bước loại bỏ sản phẩm nhựa dùng một lần. Theo Nghị định 08/2022/NĐ-CP của Chính phủ, từ ngày 1/1/2026, sẽ dừng sản xuất và nhập khẩu túi ni lông khó phân hủy có kích thước nhỏ hơn 50cm x 50cm. Đến sau năm 2030, toàn bộ sản phẩm nhựa sử dụng một lần sẽ không còn được lưu hành. Khi ấy, loại vật liệu sinh học, nhất là những sản phẩm làm từ lá, bẹ, sợi tự nhiên sẽ trở thành lựa chọn thay thế tất yếu.

      Việt Nam mỗi năm thải ra khoảng 1,8 triệu tấn rác nhựa, nhưng chỉ 10% trong số đó được tái chế. Số còn lại trôi ra sông, biển, phân rã thành vi nhựa. Chúng ta quen với túi ni lông tiện lợi, cốc nhựa giá rẻ, nhưng ít khi nghĩ rằng chính sự tiện lợi ấy sẽ phải trả giá bằng môi trường sống của thế hệ sau. Bởi vậy, việc phát triển những sản phẩm thay thế từ phụ phẩm nông nghiệp như: túi, hộp, bao bì, ống hút, dây buộc… không chỉ là cơ hội kinh tế, mà còn là lối thoát cho hành tinh đang “ngộp thở” vì nhựa.

      Tất nhiên, để những sản phẩm như “lá tre xuất khẩu” hay “sợi chuối sinh học” đi xa hơn vẫn cần vượt qua nhiều rào cản về hạ tầng logistics, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn, chứng nhận chất lượng, chi phí kiểm định. Nhưng bài toán không nằm ở sản lượng, mà ở cách tổ chức chuỗi giá trị. Khi nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và nhà khoa học cùng ngồi lại, phụ phẩm sẽ không còn là phần thừa, mà là khởi đầu của dòng sản phẩm mới gắn liền với phát triển nông nghiệp xanh, nông thôn sạch.

      Link bài gốcLấy link
      https://doisongphapluat.nguoiduatin.vn/loai-la-tung-bi-bo-i-khong-ai-lay-bat-ngo-uoc-san-lung-voi-gia-at-o-a604806.html
      Zalo

      Cảm ơn bạn đã quan tâm đến nội dung trên.

      Hãy tặng sao để tiếp thêm động lực cho tác giả có những bài viết hay hơn nữa.

      Đã tặng:
      Tặng quà tác giả
      BÌNH LUẬN
      Bình luận sẽ được xét duyệt trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.
      Tin liên quan