Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XVI, Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất thông qua ngày 23/8/2026 với 470/471 đại biểu Quốc hội có mặt biểu quyết tán thành (đạt tỷ lệ 99,8% số đại biểu có mặt). Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TNBTCNN (Luật) đã thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp, đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân đã được Hiến pháp quy định, đồng thời khắc phục những vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn thi hành Luật TNBTCNN năm 2017. Luật gồm 03 Điều: Điều 1 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TNBTCNN (gồm 32 khoản, sửa đổi, bổ sung 37/78 điều, bãi bỏ 02/78 điều); Điều 2 sửa đổi, bổ sung một số điều của luật có liên quan (Luật Phòng, chống tham nhũng và Luật Quản lý thuế); Điều 3 quy định điều khoản thi hành.
Tại buổi họp báo, ông Nguyễn Thanh Ngọc - Thứ trưởng Bộ Tư pháp, đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo đã giới thiệu các nội dung mới chủ yếu của Luật.
Toàn cảnh buồi họp báo.
Về nguyên tắc bồi thường của Nhà nước
Luật quy định: “Việc bồi thường của Nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật này, trừ trường hợp Quốc hội có quy định khác về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong các lĩnh vực quy định tại Điều 1 của Luật này” nhằm đáp ứng các yêu cầu sau: (i) Chủ thể quyết định phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước khác với Luật TNBTCNN là Quốc hội; (ii) Phạm vi TNBTCNN của Nhà nước được Quốc hội quyết định phải nằm trong giới hạn 03 lĩnh vực được quy định tại Điều 1 của Luật TNBTCNN (quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án) và là trường hợp chưa được quy định tại Chương II (gồm các điều 17, 18, 19, 20 và 21) của Luật TNBTCNN; (iii) Bảo đảm tính cụ thể, rõ ràng, sự đồng bộ, thống nhất trong nội tại của Luật TNBTCNN và không tạo nên cách hiểu khác nhau. Trong trường hợp này, các quy định có liên quan của Luật TNBTCNN (như căn cứ xác định TNBTCNN; thiệt hại được bồi thường; quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại; cơ quan giải quyết bồi thường; thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường...) được áp dụng đầy đủ và đồng bộ để xem xét TNBTCNN.
Bên cạnh đó, Luật sửa đổi nguyên tắc lựa chọn cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự theo hướng người yêu cầu bồi thường có thể đề nghị cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại giải quyết hoặc đề nghị Tòa án giải quyết, tương tự như trong hoạt động quản lý hành chính và thi hành án nhằm bảo đảm tối đa quyền của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại.
Về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính
Nhằm thể chế hóa Quy định số 231-QĐ/TW, Luật bổ sung quyền được Nhà nước bồi thường cho người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và người thân của họ khi cơ quan có thẩm quyền không áp dụng, áp dụng không kịp thời hoặc không đúng biện pháp bảo vệ gây thiệt hại; đồng thời, Luật bổ sung một số hành vi làm phát sinh TNBTCNN trong hoạt động quản lý hành chính để khắc phục vướng mắc trong thực tiễn và sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản để bảo đảm thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật.
Về cơ quan giải quyết bồi thường
Luật sửa đổi một số quy định về cơ quan giải quyết bồi thường để phù hợp với sự sắp xếp tổ chức bộ máy và mô hình chính quyền địa phương hai cấp; bổ sung cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ người tố cáo, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và người thân là cơ quan giải quyết bồi thường; cập nhật tên gọi các cơ quan nhà nước để thống nhất với pháp luật hiện hành có liên quan.
Công bố Luật số 15/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung Luật Trách bồi thường của Nhà nước.
Về trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường
Luật tập trung sửa đổi cơ bản, toàn diện các quy định về thành phần hồ sơ, thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường, trong đó chú trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người yêu cầu bồi thường. Ví dụ: cơ quan giải quyết bồi thường phải ra quyết định giải quyết bồi thường trong mọi trường hợp (kể cả trường hợp thương lượng thành hoặc không thành), có trách nhiệm tự thu thập văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường (có sẵn trong hồ sơ, cơ sở dữ liệu của các cơ quan nhà nước) mà không yêu cầu người yêu cầu bồi thường cung cấp; trách nhiệm chuyển hồ sơ yêu cầu bồi thường cho cơ quan nhà nước khác giải quyết theo thẩm quyền mà không yêu cầu người dân phải thực hiện lại quy trình nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường; xác định thương lượng là quyền của người yêu cầu bồi thường nhưng không phải là nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện… Bên cạnh đó, Luật cũng đã quy định cụ thể trình tự thực hiện giải quyết lại yêu cầu bồi thường để tạo sự thuận lợi, thống nhất trong quá trình tổ chức thực hiện.
Về kinh phí bồi thường và thủ tục chi trả
Luật quy định về quy trình, thủ tục về cấp kinh phí bồi thường và thủ tục chi trả trên cơ sở phù hợp với Luật Ngân sách nhà nước và bảo đảm đơn giản hóa tối đa. Việc chi trả được thực hiện trong một khoảng thời gian rất ngắn: cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại sử dụng kinh phí được cấp từ đầu năm để thực hiện chi trả mà không cần làm thủ tục đề nghị cấp kinh phí bồi thường; trong thời gian 02 ngày làm việc kể từ ngày quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại phải thông báo cho người yêu cầu bồi thường về việc chi trả tiền bồi thường.
Về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ gây thiệt hại
Luật bổ sung căn cứ giảm mức hoàn trả, miễn hoàn trả đối với người thi hành công vụ thực hiện đề xuất đổi mới, sáng tạo và một số trường hợp cụ thể như lập công lớn, mắc bệnh hiểm nghèo; lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn; bổ sung quy định xử lý trường hợp Hội đồng không xác định được đầy đủ các nội dung khi xem xét trách nhiệm hoàn trả.
Về trách nhiệm quản lý nhà nước và trách nhiệm của các cơ quan
Luật quy định nguyên tắc Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước trên phạm vi cả nước; Bộ Tư pháp là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thống nhất thực hiện quản lý nhà nước; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước tại địa phương với các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể; bổ sung nhiệm vụ chỉ đạo thực hiện chuyển đổi số trong công tác bồi thường nhà nước và phân quyền một số nhiệm vụ quản lý nhà nước cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Sửa đổi, bổ sung một số điều của luật có liên quan
Luật sửa đổi khoản 1 Điều 5 của Luật Phòng, chống tham nhũng để thể chế hóa quyền của người đấu tranh chống tham nhũng theo Quy định số 231-QĐ/TW; sửa đổi điểm n khoản 1 Điều 37 và điểm g khoản 1 Điều 38 của Luật Quản lý thuế để bảo đảm sự thống nhất với Luật TNBTCNN.
Quy định chuyển tiếp
Luật quy định trường hợp yêu cầu bồi thường đã được thụ lý trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa giải quyết hoặc đang giải quyết thì tiếp tục áp dụng Luật TNBTCNN năm 2017 để giải quyết. Tuy nhiên, kể từ ngày Luật có hiệu lực thi hành, đối với những công việc, thủ tục chưa có kết quả giải quyết thì cơ quan giải quyết bồi thường áp dụng quy định có lợi hơn cho người yêu cầu bồi thường, người thi hành công vụ có trách nhiệm hoàn trả theo quy định của Luật này để giải quyết, trừ trường hợp người yêu cầu bồi thường, người thi hành công vụ có trách nhiệm hoàn trả đề nghị không áp dụng quy định đó.