Không chỉ hỗ trợ học phí
Trong khi nhiều chính sách học bổng tiến sĩ đang tập trung vào các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN) lựa chọn một hướng đi khác: đầu tư trực tiếp cho nghiên cứu sinh (NCS) tiến sĩ nhằm tạo nguồn giảng viên, nhà khoa học kế cận.
Theo PGS.TS Đặng Hồng Sơn, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đây là chính sách được xây dựng trong bối cảnh giáo dục đại học đang có nhiều thay đổi, đồng thời đặt ra yêu cầu ngày càng cao về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Khoảng trống học bổng tiến sĩ trong lĩnh vực KHXH&NVTừ sau Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, nhiều chính sách mới về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, bồi dưỡng nhân tài được công bố.
Đáng chú ý, Nghị định số 179/2026/NĐ-CP ngày 20/5/2026 của Chính phủ quy định chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược, với mức học bổng 7,4-8,4 triệu đồng/tháng. Danh mục 111 ngành được áp dụng chính sách này sau đó được cụ thể hóa tại Quyết định số 1826/QĐ-BGDĐT ngày 26/6/2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Tuy nhiên, theo PGS.TS Đặng Hồng Sơn, danh mục này không bao gồm các ngành thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.
Ở cấp địa phương, Hà Nội cũng đã công bố chính sách hỗ trợ NCS thông qua Nghị quyết số 57/2026/NQ-HĐND ngày 15/6/2026, với mức hỗ trợ một lần khoảng 318 - 428 triệu đồng/NCS, tùy thời điểm hoàn thành chương trình. Đối tượng thụ hưởng phải phục vụ việc giải quyết những bài toán lớn của thành phố.
Một số trường đại học công lập và tư thục cũng công bố các gói học bổng dành cho NCS ở những lĩnh vực khoa học cơ bản, then chốt, chiến lược và mũi nhọn. Có trường đại học tư thục cấp học bổng lên tới 150 triệu đồng/NCS/năm.
PGS.TS Đặng Hồng Sơn trao bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Ảnh minh họa/USSH.
Trong khi đó, ở lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, hiện chưa có học bổng toàn phần dành cho NCS học tập tiến sĩ. Người học chủ yếu được miễn, giảm học phí hoặc nhận kinh phí hỗ trợ từ các đề tài nghiên cứu khoa học mà mình tham gia.
Khoảng trống này trở thành một trong những lý do Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn xây dựng chính sách học bổng NCS tiến sĩ gắn với mục tiêu tạo nguồn giảng viên.
Theo PGS.TS Đặng Hồng Sơn, phát triển đội ngũ kế cận là nhiệm vụ nền tảng đối với một trường đại học nghiên cứu. Với sứ mệnh đào tạo tinh hoa trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, nhà trường xác định muốn có đội ngũ giảng viên mạnh trong tương lai thì phải chủ động tạo nguồn từ hôm nay.
Điểm khác biệt của chính sách là NCS không chỉ được hỗ trợ kinh phí học tập mà được tuyển chọn theo diện tạo nguồn giảng viên của nhà trường.
NCS phải hoàn thành và bảo vệ thành công luận án tiến sĩ trong thời gian đào tạo chuẩn, gồm 3 năm đối với người đã có bằng thạc sĩ và 4 năm đối với người học từ bằng cử nhân.
Trong thời gian thực hiện hợp đồng, NCS thuộc diện tạo nguồn được dành toàn bộ thời gian cho nghiên cứu và hoàn thiện luận án, không bị phân công các công việc hành chính, sự vụ. Theo lãnh đạo nhà trường, việc tạo ra quỹ thời gian và môi trường nghiên cứu là yếu tố quan trọng nếu muốn một cán bộ trẻ phát triển thành nhà khoa học.
Cùng với đó, nhà trường phân công các giảng viên giàu kinh nghiệm hướng dẫn NCS, qua đó hỗ trợ phát triển chuyên môn. NCS chỉ thực hiện nhiệm vụ trợ giảng ở mức 20 giờ/năm học nhằm rèn luyện kỹ năng giảng dạy. Giảng viên hướng dẫn cũng được hưởng thù lao trách nhiệm hơn 1 triệu đồng/tháng.
Gói đầu tư lên tới 750 triệu đồng
Một trong những nội dung đáng chú ý của chính sách là nhà trường cấp học bổng bằng 100% học phí trong thời gian đào tạo chuẩn, tương đương 50 triệu đồng/năm.
Tuy nhiên, theo PGS.TS Đặng Hồng Sơn, giá trị của chính sách không chỉ nằm ở khoản hỗ trợ học phí mà ở việc tạo ra một môi trường để cán bộ trẻ có thể tập trung cao độ cho con đường học thuật.
Ngoài học phí, trong thời gian học tập, NCS có thể được tài trợ tối đa 25 triệu đồng để tham gia các hoạt động học thuật ở nước ngoài; nhận thưởng 50 triệu đồng nếu bảo vệ luận án trước hoặc đúng hạn.
NCS cũng được tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ; được xem xét hỗ trợ công bố quốc tế, tham gia các đề tài, dự án khoa học và công nghệ. Sau khi đạt trình độ tiến sĩ, nếu đủ điều kiện, người học còn được tạo điều kiện tu nghiệp, bồi dưỡng ở nước ngoài.
Đáng chú ý, khi được nhà trường ký hợp đồng tạo nguồn, NCS tiến sĩ sẽ nhận sinh hoạt phí (lương) trên 10 triệu đồng/tháng, được đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và nhận các khoản kinh phí lễ, Tết như cán bộ chính thức của trường.
Tính chung, tổng kinh phí một NCS có thể nhận trong 3 - 4 năm học khoảng 580-750 triệu đồng.
Đây được xem là một khoản đầu tư tương đối toàn diện, không chỉ dành cho quá trình hoàn thành luận án mà còn hướng tới việc hình thành năng lực nghiên cứu, giảng dạy và hội nhập học thuật của đội ngũ kế cận.
PGS.TS Đặng Hồng Sơn, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Ảnh: Nguyễn Lâm
Đi cùng với mức đầu tư lớn, chính sách cũng đặt ra những yêu cầu đầu ra cao đối với NCS.
Trong thời gian thực hiện hợp đồng, NCS tạo nguồn phải có ít nhất một công bố quốc tế thuộc danh mục WoS/Scopus. Theo PGS.TS Đặng Hồng Sơn, một tấm bằng tiến sĩ không phải là thước đo duy nhất đối với chất lượng đào tạo tại một trường đại học nghiên cứu. Khả năng nghiên cứu độc lập và hội nhập học thuật quốc tế thông qua các sản phẩm khoa học chất lượng cũng là những chuẩn đầu ra quan trọng.
Để đáp ứng yêu cầu này, nhà trường sẽ tạo điều kiện để NCS tham gia các đề tài, dự án khoa học và công nghệ, trong đó sản phẩm nghiên cứu có thể gắn với luận án và công bố khoa học. Nhà trường đồng thời xem xét hỗ trợ kinh phí công bố quốc tế và tham dự các hội nghị, hội thảo khoa học ở nước ngoài theo quy định.
Chính sách cũng yêu cầu NCS hoàn thành tiến sĩ đúng thời gian đào tạo chuẩn, đạt trình độ ngoại ngữ tương đương C1, hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu và công bố khoa học.
Nếu không hoàn thành các yêu cầu, NCS thuộc diện tạo nguồn phải thực hiện trách nhiệm bồi hoàn kinh phí theo quy định và nhà trường dừng hợp đồng tạo nguồn.
Theo lãnh đạo Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, nguyên tắc của chính sách là đầu tư đi đôi với trách nhiệm, hỗ trợ đi đôi với sàng lọc theo kết quả.
Trong bối cảnh nhiều chương trình học bổng tiến sĩ trên thế giới và trong nước đang dành nguồn lực lớn cho STEM, việc đầu tư cho khoa học xã hội và nhân văn đặt ra một câu hỏi về sự cân bằng trong phát triển nguồn nhân lực.
PGS.TS Đặng Hồng Sơn cho rằng STEM có vai trò quan trọng trong nâng cao năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo và phát triển công nghệ. Tuy nhiên, phát triển quốc gia không chỉ là câu chuyện của công nghệ.
Công nghệ được tạo ra bởi con người và được triển khai trong một xã hội cụ thể. Những vấn đề từ lịch sử, văn hiến đến biến đổi xã hội, văn hóa, quản trị, chính sách công, pháp luật, giáo dục, truyền thông, quan hệ quốc tế hay hành vi con người đều tác động trực tiếp đến chất lượng và tính bền vững của quá trình phát triển.
Vì vậy, đầu tư cho NCS lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn cũng chính là đầu tư cho năng lực hiểu con người, hiểu xã hội và kiến tạo chính sách phục vụ quản trị quốc gia.
Thay vì đặt STEM và KHXH&NV trong thế cạnh tranh xem lĩnh vực nào xứng đáng được đầu tư hơn, theo PGS.TS Đặng Hồng Sơn, một hệ sinh thái đại học và khoa học hiện đại cần sự kết hợp của cả hai. Đặc biệt, nhiều vấn đề lớn hiện nay đòi hỏi nghiên cứu liên ngành, trong đó công nghệ cần được kết hợp với hiểu biết về con người và xã hội.
Bên cạnh mục tiêu đào tạo, chính sách học bổng NCS còn được nhà trường kỳ vọng trở thành công cụ thu hút nhân tài trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng lớn về nguồn nhân lực chất lượng cao.
Một người trẻ có năng lực có nhiều lựa chọn nghề nghiệp. Nếu muốn họ lựa chọn con đường giảng dạy và nghiên cứu, các trường đại học phải tạo ra môi trường đủ hấp dẫn, đồng thời xây dựng định hướng và lộ trình phát triển rõ ràng.