Quy định các cấp độ của chứng chỉ tiếng Anh VEPT
Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa chính thức công nhận chứng chỉ tiếng Anh Versant English Placement Test (VEPT) tương đương bậc 1–3 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam, qua đó đủ điều kiện sử dụng để xét chuẩn đầu ra ngoại ngữ bậc đại học.
Cụ thể như sau:

Công nhận các cấp độ của chứng chỉ tiếng Anh Versant English Placement Test tương đương Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc Việt Nam.
Đây được xem là một bước đi chiến lược trong lộ trình đa dạng hóa các phương thức đánh giá năng lực ngoại ngữ, giúp thí sinh có thêm công cụ gia tăng cơ hội trúng tuyển vào các cơ sở giáo dục đại học.
VEPT là bài kiểm tra đánh giá trình độ tiếng Anh do Tập đoàn Giáo dục Pearson (Vương quốc Anh) phát triển, nhằm đo lường đầy đủ 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết đối với người không sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ mẹ đẻ.
Bên cạnh đó, đối với chứng chỉ tiếng Anh VEPT đạt từ 67 điểm trở lên được dùng thay cho chứng chỉ tương đương Bậc 3 (B1) của Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam để sử dụng trong tuyển sinh, đào tạo các trình độ của giáo dục đại học. Đây là ngưỡng điểm quan trọng vì phần lớn các trường đại học hiện nay yêu cầu đầu ra và ưu tiên xét tuyển đầu vào từ mức độ này trở lên.
Chia sẻ về vấn đề này trên báo Sức khỏe và Đời sống, cô Nguyễn Thu Hà, giáo viên tiếng Anh tại một trường THPT nhận định: "Việc công nhận thêm chứng chỉ VEPT là một tín hiệu rất tích cực. Với khung điểm quy đổi thực tế là 43 điểm để đạt trình độ B1, áp lực tâm lý của học sinh sẽ được giải tỏa đáng kể. Cấu trúc thi 4 kỹ năng trên máy tính của VEPT cũng phản ánh khá sát năng lực thực hành ngôn ngữ của các em".
Em Nguyễn Minh Quân, học sinh lớp 12 tại tỉnh Hưng Yên bày tỏ sự hào hứng: "Em dự định xét tuyển vào khối ngành Kinh tế nên mức quy đổi B1 này rất phù hợp với năng lực hiện tại của em. Việc có thêm lựa chọn này giúp em tự tin hơn khi mùa tuyển sinh 2026 đang đến gần".
Theo Công dân và Khuyến học, tuy nhiên thí sinh cần lưu ý, khác với một số chứng chỉ quốc tế khác có biên độ quy đổi rộng hơn như IELTS có thể quy đổi lên Bậc 5, 6 (C1, C2), thì hiện tại Bộ GD&ĐT chỉ mới công nhận VEPT tương đương bậc 1-3. Thí sinh muốn xét tuyển vào các ngành ngôn ngữ hoặc các trường top yêu cầu trình độ cao hơn cần đặc biệt lưu ý để tránh việc chứng chỉ không được chấp nhận.
Mặc khác, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đưa ra khung quy đổi, còn việc có chấp nhận chứng chỉ VEPT vào đề án tuyển sinh hay không hoàn toàn phụ thuộc vào từng trường.
Có thể thấy, việc chứng chỉ tiếng Anh VEPT được công nhận mở ra thêm cơ hội tuyển sinh cho thí sinh song không phải là tất cả khi chứng chỉ chỉ được giới hạn công nhận ở bậc 3.
Thí sinh lựa chọn chứng chỉ tiếng Anh VEPT để xét tuyển phải hết sức lưu ý kiểm tra kỹ Đề án tuyển sinh của trường đại học mục tiêu để xác định chứng chỉ này có nằm trong danh mục được chấp nhận và mức điểm quy đổi cụ thể là bao nhiêu.
Vì vậy, trước khi nộp hồ sơ, thí sinh cần chủ động rà soát kỹ danh mục chứng chỉ được chấp nhận của trường đại học mục tiêu để đảm bảo "tấm vé thông hành" mang tên VEPT được sử dụng hiệu quả nhất.
Thêm cơ hội xét tuyển đại học trong phương thức xét tuyển kết hợp
Trong xu hướng tự chủ đại học, đặc biệt trong mùa tuyển sinh đại học 2026, phương thức xét tuyển kết hợp được nhiều trường đại học học lựa chọn là phương thức tuyển sinh chủ đạo.
Thay vì chỉ phụ thuộc vào một bài thi duy nhất, phương thức này cho phép các trường đại học tuyển chọn thí sinh qua nhiều lăng kính khác nhau để chọn lọc được những cá nhân toàn diện nhất.
Xét tuyển kết hợp không có một công thức cố định cho tất cả các trường, nhưng thường xoay quanh 3 thành phần chính: Chứng chỉ quốc tế + Học bạ: Thí sinh có chứng chỉ ngoại ngữ (IELTS, TOEFL, và nay là VEPT...) kết hợp với điểm trung bình 3 năm trung học phổ thông.
Chứng chỉ quốc tế + điểm thi tốt nghiệp: Dùng điểm ngoại ngữ quy đổi cộng với điểm 2 môn còn lại trong tổ hợp xét tuyển.
Giải thưởng + kết quả học tập: Ưu tiên học sinh giỏi quốc gia, giải tỉnh, hoặc học sinh trường chuyên có thành tích xuất sắc.
Vì vậy, việc sở hữu chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế đã trở thành "tấm vé thông hành" quan trọng giúp thí sinh vào thẳng các trường đại học top đầu.
Theo Khung trình độ quốc gia Việt Nam (ban hành năm 2016), người có bằng đại học phải đạt năng lực ngoại ngữ bậc 3/6, tương đương trình độ B1 theo Khung tham chiếu châu Âu (CEFR).

(Ảnh minh họa: báo Nhân Dân).
Theo Vnxpress, trước đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố một số chứng chỉ tiếng Anh được quy đổi sang Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc, gồm: PEIC, Aptis ESOL, PTE Academic.
Trong quy chế đào tạo sau đại học, nhiều chứng chỉ khác cũng được công nhận như: IELTS, TOEFL iBT, TOEFL ITP, Cambridge Assessment English, TOEIC (4 kỹ năng).
Việc lựa chọn chứng chỉ và mức điểm cụ thể để công nhận chuẩn đầu ra thuộc thẩm quyền của các cơ sở đào tạo, song điều kiện bắt buộc là phải đạt từ bậc 3/6 trở lên.
Ví dụ, với chứng chỉ TOEIC, Đại học Bách khoa Hà Nội yêu cầu đạt 500 điểm; Học viện Ngân hàng đưa ra mức 450 với sinh viên hệ chuẩn và 600 với chương trình chất lượng cao, liên kết quốc tế.
Các chương trình đào tạo Ngôn ngữ Anh tại các trường thường yêu cầu mức cao hơn - bậc 5/6, tương đương trình độ C1 theo khung châu Âu.
Với VEPT, Bộ cho biết đến hết tháng 8/2025, có gần 6.600 chứng chỉ được cấp, chủ yếu ở bậc B1 (khoảng 50%), B2 (18%).
Nhiều trường đại học năm ngoái công nhận chứng chỉ này trong tuyển sinh, đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ. Trong đó, một số quy đổi 46-60 điểm VEPT tương đương bậc 4.
Tuy nhiên, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết, việc này không đúng bởi khi đó Bộ chưa công nhận các cấp độ của chứng chỉ VEPT tương đương với các bậc trong Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam. Với quyết định mới, chứng chỉ này cũng mới chỉ tương đương bậc 1-3.
Điều này khiến khoảng 70 học viên cao học ở Đại học Sư phạm Hà Nội không đủ điều kiện bảo vệ tốt nghiệp, ra trường. Trước đó, họ học và thi VEPT theo thông báo của trường, nhưng sau lại không được công nhận.
Bộ Giáo dục và Đào tạo khẳng định, việc công nhận VEPT lần này nhằm bổ sung thêm lựa chọn chứng chỉ ngoại ngữ hợp lệ, đồng thời yêu cầu các cơ sở đào tạo tuân thủ đúng quy định quy đổi, bảo đảm quyền lợi và tính pháp lý cho người học.






