Luật Nhà giáo chính thức có hiệu lực từ 1/1/2026, trong đó đáng chú ý là các cơ chế đặc thù về tuổi nghỉ hưu, tiền lương, đãi ngộ và phát triển nghề nghiệp của giáo viên.
Cơ chế đặc thù về nghỉ hưu đối với đội ngũ giáo viên
Theo Luật Nhà giáo, tuổi nghỉ hưu của nhà giáo thực hiện theo quy định của Bộ luật Lao động và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Đáng chú ý, nhà giáo trong cơ sở giáo dục mầm non nếu có nguyện vọng thì có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện bình thường nhưng không quá 5 tuổi.
Trường hợp giáo viên có đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên thì không giảm tỷ lệ phần trăm hưởng lương hưu do việc nghỉ hưu trước tuổi.
Như vậy, từ năm 2026, cô giáo mầm non được nghỉ hưu nếu đủ 52 tuổi, thầy giáo mầm non được nghỉ hưu nếu đủ 56 tuổi 6 tháng; với điều kiện đóng đủ 15 năm bảo hiểm xã hội.
Giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ hoặc nhà giáo làm việc trong lĩnh vực chuyên sâu đặc thù được nghỉ hưu ở tuổi cao hơn.
Chế độ nghỉ hưu ở tuổi cao hơn được thực hiện khi cơ sở giáo dục có nhu cầu; nhà giáo có đủ sức khỏe, tự nguyện và đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện của cơ sở giáo dục.
Thời gian nghỉ hưu ở tuổi cao hơn được quy định không quá 5 tuổi đối với nhà giáo có trình độ tiến sĩ; không quá 7 tuổi đối với nhà giáo có chức danh phó giáo sư; Không quá 10 tuổi đối với nhà giáo có chức danh giáo sư.
Trong thời gian thực hiện chế độ nghỉ hưu ở tuổi cao hơn theo quy định trên, nhà giáo không giữ chức vụ quản lý.
Chính phủ quy định chi tiết quy trình, thủ tục nghỉ hưu ở tuổi cao hơn; việc nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với nhà giáo ở ngành, lĩnh vực chuyên sâu đặc thù.

Giáo viên có thể nghỉ hưu sớm 5 năm, kéo dài thời gian công tác tối đa 10 năm. Ảnh minh họa
Tiền lương, đãi ngộ và thay đổi về chức danh nhà giáo
Bên cạnh chính sách nghỉ hưu, Luật Nhà giáo dành nhiều quy định về tiền lương và chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ nhà giáo. Theo đó, tiền lương của nhà giáo trong các cơ sở giáo dục công lập được xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp; Chính phủ quy định chi tiết chính sách tiền lương đối với nhà giáo trên cơ sở nguyên tắc này.
Ngoài tiền lương, nhà giáo còn được hưởng các khoản phụ cấp và hỗ trợ theo tính chất công việc và theo vùng, bao gồm phụ cấp đặc thù, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp ưu đãi, trợ cấp vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, trợ cấp giáo dục hòa nhập, thâm niên, lưu động và các chế độ hỗ trợ khác theo quy định.
Luật cũng quy định nhà giáo ở cả khu vực công lập và ngoài công lập được hưởng chế độ hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng; hỗ trợ chăm sóc sức khỏe định kỳ và chăm sóc sức khỏe nghề nghiệp; được bố trí nhà ở công vụ, chỗ ở tập thể hoặc hỗ trợ tiền thuê nhà khi công tác tại vùng đặc biệt khó khăn. Đồng thời, có chính sách thu hút, trọng dụng đối với người có trình độ cao, có tài năng, có năng khiếu đặc biệt, có kỹ năng nghề cao và nhà giáo làm việc trong các lĩnh vực trọng yếu, thiết yếu.
Một điểm mới khác là Luật Nhà giáo bãi bỏ hệ thống phân hạng nhà giáo I, II, III trước đây, thay bằng khái niệm chức danh nhà giáo được xác định theo yêu cầu nghề nghiệp trong từng cấp học và trình độ đào tạo. Chính phủ sẽ ban hành nghị định quy định chi tiết về chức danh nhà giáo và các nội dung liên quan nhằm bảo đảm tính thống nhất trong tổ chức thực hiện.










