Từ trung tâm xã Nậm Chà, huyện Nậm Nhùn (cũ), tỉnh Lai Châu, con đường dẫn vào bản Huổi Mắn ngoằn ngoèo, gập ghềnh như chính hành trình gieo chữ của những giáo viên mầm non vùng cao nơi đây. Cách trung tâm xã hơn 30km, cô Mào Thị Hẹn phải đi hàng giờ đồng hồ, vượt qua những con dốc dựng đứng, những đoạn suối chảy xiết mới đến được điểm trường Huổi Mắn đang nằm chênh vênh trên sườn núi giữa mây mù và gió lạnh.
Ở nơi ấy, cô gái người Mường Mô, vẫn đều đặn mỗi ngày bám lớp, bám bản, mang ánh sáng của con chữ đến với những đứa trẻ H’Mông còn nhiều khó khăn.

Năm 2016, sau khi tốt nghiệp ngành Sư phạm Mầm non, cô Hẹn mang theo nhiệt huyết tuổi trẻ về nhận công tác tại Trường Mầm non Nậm Chà. Trải qua gần 10 năm, cô đã đi qua nhiều điểm trường xa xôi, gian khó. Đến năm 2020, cô Hẹn được điều động về Huổi Mắn, điểm trường khó khăn và xa nhất xã để công tác.
Ngày đầu nhận lớp, hình ảnh căn nhà gỗ trống hoác, vách hở gió lùa vẫn còn in đậm trong trí nhớ của cô giáo trẻ: “Tôi đi bộ hơn một tiếng mới tới nơi. Trước mắt chỉ là căn nhà gỗ trống, chẳng có gì ngoài vài tấm ván cũ. Đêm đến, gió thổi hun hút, mưa thì tạt vào tận chỗ ngủ”, cô Hẹn nhớ lại.
Không điện, không sóng điện thoại, ban đêm tối đặc như mực. Mỗi khi cần soạn bài, cô Hẹn lại bật chiếc đèn pin nhỏ và để chế độ sáng yếu nhất vì sợ hết pin thì những đêm sau chẳng còn ánh sáng mà dùng. Khi pin yếu, cô Hẹn lại đi bộ đến nhà người dân đầu bản sạc nhờ bình ắc quy. “Có hôm mưa to, đường trơn, vẫn phải đi vì không còn cách nào khác”, cô Hẹn nhớ lại.



Cũng theo cô Mào Thị Hẹn, ở bản Huổi Mắn, từng có thời, đi học là điều xa xỉ. Bà con lên nương từ sáng sớm, trẻ nhỏ ở nhà trông em và nấu cơm, phụ việc nhà. Có những gia đình quan niệm: “Học cũng thế thôi, lớn lên lại đi làm nương”, nên hầu hết đều muốn các con ở nhà.
Chính vì vây, ngày mới vào bản, cô Hẹn và đồng nghiệp gần như không có học sinh. Không nản lòng, các cô kiên trì đi bộ hàng giờ đến từng nhà vận động. “Mỗi ngày tôi chọn một hướng, gùi ít đồ, đi từng nhà. Có những nhà sâu hút trong bản, phải đi mất nửa ngày. Nhá nhém tối lại phải quay về vì sợ lạc đường khi trời tối đặc. Mỗi ngày cứ lặp đi lặp lại như thế đến khi nào bà con hiểu cho các con đi học thì thôi”, cô kể lại.

Dần dần dưới sự kiên trì của các cô, những đứa trẻ bắt đầu đến lớp. Ban đầu chỉ vài ba em, rồi mười, hai mươi… Tiếng ê a tập đếm, tiếng cười giòn vang giữa rừng khiến cô Hẹn thấy bao mệt nhọc tan biến.
Rồi có những ngày có những đứa trẻ được bố mẹ gửi đến lớp rồi… “quên” đón. Chiều xuống, cô Hẹn cùng đồng nghiệp lại nấu cơm, tắm rửa, giặt quần áo cho học trò. “Chúng tôi coi học trò như con. Nhìn các con ăn ngon, cười tươi là thấy mọi vất vả tan biến hết. Nhiều khi tôi thấy mình giống người mẹ thứ hai của các con hơn là cô giáo. Giữa rừng núi này, có lẽ chúng tôi phải cho các con hơi ấm trước khi cho con chữ”, cô Hẹn rạng rỡ chia sẻ.

Gần 10 năm là giáo viên cắm bản cũng là 10 năm đầy khó khăn, thử thách đối với cô giáo trẻ Mào Thị Hẹn. Nhà ở xã Mường Mô, cách điểm trường Huổi Mắn hơn 50 km, nên mỗi tháng cô chỉ về nhà được một lần. Hậu phương của cô là người chồng đồng cảm với nghề và cô con gái 6 tuổi lanh lợi.
Những năm 2020 - 2021, muốn về nhà, cô Hẹn phải đi bộ hàng tiếng mới ra được đường chính. “Mỗi lần về, tôi chỉ ở được một, hai ngày rồi lại lên lớp. Con nhỏ cứ ôm chặt không cho đi. Nhìn con khóc mà lòng tôi quặn lại”, cô Hẹn xúc động kể lại.
Khó khăn chồng chất khi mẹ cô mắc bệnh hiểm nghèo. Nhiều lần nghe tin mẹ nhập viện, cô chỉ biết gọi điện hỏi thăm vì không thể bỏ lớp. “Có hôm đêm nằm, nhớ mẹ, nhớ con, tôi chỉ biết quay mặt vào tường mà khóc”, cô Hẹn xúc động nói.


Trao đổi thêm với PV ĐS&PL, cô Đinh Thị Kim Dung, Phó Hiệu trưởng Trường Mầm non Nậm Chà chia sẻ: “Trường Mầm non Nậm Chà có 7 điểm trường lẻ, phân bố tại các bản trong xã, trong đó, Huổi Mắn là điểm trường xa và khắc nghiệt nhất. Mùa đông giá rét, đường trơn như bôi mỡ, nhưng cô Hẹn vẫn luôn bám lớp, chưa một ngày bỏ lớp. Cô là tấm gương sáng về tinh thần yêu nghề, tận tụy với học sinh”.
Nhờ sự kiên trì của những người như cô giáo Hẹn, tỷ lệ chuyên cần của trẻ vùng cao đã cải thiện đáng kể. Năm 2024, nhờ một đoàn thiện nguyện, điểm trường Huổi Mắn có hai phòng học xây kiên cố, đó là “món quà quý giá sau bao năm dạy trong nhà gỗ”.

Cô Mào Thị Hẹn
“Chúng tôi coi học trò như con. Nhìn các con ăn ngon, cười tươi là thấy mọi vất vả tan biến hết. Nhiều khi tôi thấy mình giống người mẹ thứ hai của các con hơn là cô giáo. Giữa rừng núi này, có lẽ chúng tôi phải cho các con hơi ấm trước khi cho con chữ”.
Với cô Hẹn, hạnh phúc đôi khi chỉ giản đơn là được nghe tiếng trẻ ê a tập nói, được thấy học trò đến lớp đông đủ. “Có lúc mệt mỏi, tôi từng nghĩ đến nghỉ việc. Nhưng chỉ cần nghe tiếng “Cô ơi” là tôi lại thấy mình không nỡ rời đi”, cô chia sẻ.
Những nỗi cô đơn, thiếu thốn vật chất, đường xa cách trở, tất cả đều không làm người cô giáo nhỏ bé gục ngã. “Ở bản, có những lúc mưa kéo dài cả tháng, lớp học dột, sàn mục, đồ chơi ướt hết. Nhưng tôi vẫn tin, chỉ cần mình không bỏ cuộc, học trò sẽ không bỏ lớp” cô nói.

Giữa bản làng Huổi Mắn còn thiếu thốn trăm bề, mỗi tối, trong căn phòng nhỏ, ánh sáng đèn pin của cô Mào Thị Hẹn vẫn sáng lên. Dưới ánh sáng ấy, cô soạn bài, viết kế hoạch, làm đồ chơi cho trẻ, như thể chính cô là ngọn đèn nhỏ thắp sáng giữa núi rừng.
“Khó khăn nhất vẫn là xa gia đình và không có điện. Nhưng tôi tin, ánh sáng của tình yêu nghề và tình thương học trò sẽ soi lối cho mình”, cô Hẹn khẳng định.
Ở nơi tưởng như bị quên lãng giữa đại ngàn Tây Bắc, vẫn có một cô giáo trẻ lặng lẽ mang con chữ đến từng nếp nhà. Câu chuyện của cô Mào Thị Hẹn không chỉ là hành trình gieo chữ, mà còn là hành trình của lòng kiên trì, của niềm tin và tình yêu con người.
Và giữa vùng cao chưa có ánh điện ấy , vẫn có những “ngọn đèn nhỏ” như cô giáo Mào Thị Hẹn, ngày ngày âm thầm thắp sáng hi vọng và ước mơ cho trẻ em vùng cao. Cô và những đồng nghiệp chính là ánh sáng ấm áp nhất giữa đại ngàn, là ánh sáng của một niềm tin dù ở nơi xa xôi nhất, ánh sáng của tri thức và tình người vẫn chưa bao giờ tắt.




