Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì cuộc họp về thực trạng hệ thống phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm - Ảnh: chinhphu.vn/Gia Huy
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đề nghị các bộ, cơ quan báo cáo rõ về thực trạng các phòng thí nghiệm; cơ chế tài chính từ đầu tư, nâng cấp, đến bảo trì, bảo dưỡng, vận hành; chỉ rõ những bất cập về cơ chế vận hành gắn với vai trò, trách nhiệm của cơ quan chủ quản, đơn vị quản lý tài sản và bộ phận trực tiếp vận hành; việc khai thác, chia sẻ, dùng chung…
Từ đó, đề xuất các giải pháp để đồng bộ toàn bộ quá trình từ việc đầu tư, nâng cấp, vận hành, khai thác, sử dụng theo chuỗi: Nghiên cứu - chế tạo mẫu - thử nghiệm - kiểm định, chứng nhận - sản xuất thử nghiệm - chuyển giao.
Hạ tầng phòng thí nghiệm còn phân tán, thiếu đồng bộ chuỗi nghiên cứu - sản xuất
Theo Thứ trưởng Bộ KH&CN Lê Xuân Định, hệ thống phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm quốc gia qua các thời kỳ được hình thành từ nhiều nguồn, gồm ngân sách nhà nước và nguồn xã hội hóa, phục vụ đa mục tiêu, từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng đến phục vụ công tác quản lý nhà nước và sản xuất, kinh doanh.
Qua khảo sát thực tế tại 113 cơ sở trọng điểm thuộc 23 đầu mối lớn, trong đó có 3 trung tâm đào tạo, nghiên cứu hàng đầu là Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Bách khoa Hà Nội và Đại học Quốc gia TPHCM (chiếm khoảng 75% mẫu khảo sát), đã ghi nhận những kết quả tích cực: Hệ thống phòng thí nghiệm đã hội tụ đội ngũ trên 1.200 nhân lực chuyên trách, có trên 5.500 công bố khoa học trong 5 năm qua và trên 600 hợp đồng dịch vụ chuyển giao.
Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Lê Xuân Định, nhìn dưới góc độ quản lý vĩ mô và hiệu quả đầu tư công, hệ thống đang bộc lộ những bất cập cần sớm khắc phục.
Cụ thể, vẫn còn sự phân hóa và đứt gãy trong các phân khúc. Hạ tầng còn manh mún; nhiều đơn vị sở hữu các thiết bị đơn lẻ nhưng thiếu tính đồng bộ trong cả chuỗi giá trị, từ nghiên cứu, thiết kế, chế tạo mẫu đến đo kiểm, chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy (chu trình từ nghiên cứu đến sản xuất).
Trang thiết bị tại nhiều cơ sở đã lạc hậu. Đối với 16 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia được đầu tư trong giai đoạn 2000-2013, với tổng nguồn vốn trên 966 tỷ đồng, hiện có tới 78% thiết bị đã có tuổi đời trên 10 năm; phần lớn đã lạc hậu và thiếu phụ tùng thay thế đồng bộ.
Hiệu quả khai thác chưa đạt yêu cầu. Mặc dù phần lớn cơ sở được khảo sát báo cáo công suất khai thác trên 80%, vẫn có khoảng 30% cơ sở hoạt động dưới 50% công suất hoặc chưa đạt hiệu quả, do thiếu kinh phí duy trì thường xuyên và thiếu kết nối với các đơn đặt hàng từ thị trường.
Từ thực trạng trên, Bộ KH&CN nhận định hạn chế lớn nhất không chỉ nằm ở số lượng thiết bị đã lạc hậu, mà còn ở sự thiếu đồng bộ trong toàn bộ chuỗi từ nghiên cứu, chế tạo mẫu, thử nghiệm, đo kiểm, kiểm định, chứng nhận đến sản xuất thử nghiệm; đồng thời thiếu một hệ thống dữ liệu thống nhất trên toàn quốc để đánh giá chính xác những khoảng trống về năng lực thực tế.
Hạn chế xuất phát từ 4 điểm nghẽn chính
Quá trình tổng kết thực tiễn, Bộ KH&CN thấy rằng nguyên nhân của những hạn chế trên xuất phát từ 4 điểm nghẽn chính.
Cụ thể, đầu tư phân tán theo cơ quan chủ quản, chương trình và dự án: Thông tin về thiết bị, công suất, tiêu chuẩn kỹ thuật, nhu cầu sử dụng chưa được kết nối để sàng lọc dự án. Danh mục năm 2026 của Bộ KH&CN đã tổng hợp 22 dự án tại 6 đầu mối với mức đề xuất là trên 1.245 tỷ đồng; năm 2027 mức đề xuất trong lĩnh vực KH&CN là trên 2.764 tỷ đồng và lĩnh vực đổi mới sáng tạo là trên 153 tỷ đồng. Thứ trưởng Lê Xuân Định cho rằng nhu cầu đầu tư lớn nhưng thiếu công cụ điều phối dễ dẫn đến đầu tư trùng lặp hoặc chưa đúng khoảng trống năng lực của quốc gia.
Cơ chế tài chính còn chú trọng vốn đầu tư ban đầu: Chưa gắn đầy đủ với chi phí vận hành trong suốt vòng đời, gồm nhân lực, vật tư, hiệu chuẩn, phần mềm, an toàn, bảo trì, sửa chữa và nâng cấp.
Mô hình quản trị và nhân lực vận hành chưa đồng đều: Ở một số cơ sở chưa phân định rõ quyền, trách nhiệm của cơ quan chủ quản, đơn vị quản lý tài sản và bộ phận trực tiếp vận hành; quyền ký hợp đồng, cung cấp dịch vụ, sử dụng nguồn thu, thuê chuyên gia, mua vật tư và bảo trì còn phân tán.
Khai thác, chia sẻ và dùng chung còn hạn chế, nguyên nhân chung là hệ thống chủ yếu được quản lý theo từng đơn vị sở hữu tài sản, chưa quản lý theo mạng lưới năng lực.
Về giải pháp tháo gỡ và tổ chức thực hiện trong thời gian tới, Bộ KH&CN đề xuất 5 giải pháp: Hoàn thành rà soát và xây dựng bản đồ năng lực phòng thí nghiệm; chuyển từ đầu tư thiết bị đơn lẻ sang đầu tư theo năng lực; xác định rõ đơn vị quản lý, vận hành và giao quyền đi đôi với trách nhiệm; hình thành mạng lưới hạ tầng nghiên cứu thử nghiệm dùng chung theo cấp quốc gia, vùng, ngành và chuyên ngành; phân tầng và tái cấu trúc mạng lưới, không đầu tư dàn trải.
Hoàn thành bản đồ năng lực hệ thống phòng thí nghiệm trong tháng 11/2026
Kết luận cuộc họp, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh, KH&CN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số được xác định là động lực tăng trưởng mới. Để KH&CN phát huy hiệu quả, cần thẳng thắn nhận diện, tháo gỡ các vướng mắc về thể chế, đầu tư, quản lý và tổ chức thực hiện; đồng thời tăng cường kết nối giữa các viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp, đưa kết quả nghiên cứu đến thị trường.
Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ KH&CN và các bộ, cơ quan liên quan tập trung nguồn lực hình thành một số phòng thí nghiệm quốc gia thực sự có năng lực. Đến năm 2030, phấn đấu hình thành 8 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia và 4 trung tâm nghiên cứu thử nghiệm quốc gia đạt trình độ khu vực và quốc tế, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược (theo Quyết định số 1483/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 4/8/2026 phê duyệt Đề án "Phát triển hệ thống các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, tập trung cho công nghệ chiến lược"). Để thực hiện mục tiêu này, Phó Thủ tướng yêu cầu các đơn vị phải có kế hoạch, tiến độ cụ thể và quyết tâm hoàn thành mục tiêu đề ra.
Để tạo chuyển biến từ tư duy đến tổ chức thực hiện, Phó Thủ tướng chỉ đạo các bộ, ngành tập trung 4 nhiệm vụ
Thứ nhất, rà soát, xây dựng bản đồ năng lực KH&CN. Bộ KH&CN được giao chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương khẩn trương xây dựng cơ sở dữ liệu và bản đồ năng lực của hệ thống phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu trên phạm vi cả nước, hoàn thành trong tháng 11/2026. Đây là cơ sở quan trọng để đánh giá chính xác thực trạng và vị trí năng lực KH&CN của Việt Nam so với khu vực và thế giới.
Thứ hai, tập trung đầu tư hạ tầng nghiên cứu dùng chung. Chuyển từ mô hình đầu tư phân tán sang phát triển hạ tầng nghiên cứu dùng chung theo chuỗi, từ nghiên cứu, chế tạo mẫu, thử nghiệm, đo kiểm đến sản xuất thử và thương mại hóa. Trước mắt, tập trung tháo gỡ khó khăn, làm điểm tại Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia TPHCM.
Thứ ba, tháo gỡ điểm nghẽn về cơ chế tài chính và thương mại hóa công nghệ. Bộ KH&CN phối hợp với Bộ Tài chính rà soát các quy định về đầu tư, mua sắm, bảo trì, vận hành thiết bị; xây dựng cơ chế tài chính cởi mở, bảo đảm nguồn lực trong toàn bộ vòng đời thiết bị, gắn quyền tự chủ với trách nhiệm giải trình.
Thứ tư, đổi mới mô hình quản trị, tăng cường kết nối doanh nghiệp. Bộ KH&CN phối hợp với Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính nghiên cứu mô hình quản trị hiện đại đối với các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia; phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm và cơ chế chia sẻ, khai thác hạ tầng dùng chung. Đồng thời, tổ chức kết nối giữa viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp để định hướng nghiên cứu sát nhu cầu thị trường, thúc đẩy chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành quyết liệt triển khai, chuyển từ đầu tư riêng lẻ sang hạ tầng nghiên cứu dùng chung, tạo năng lực nghiên cứu đồng bộ, hiện đại và thực sự đóng góp vào tăng trưởng của đất nước.