Anh N. (27 tuổi), hiện là công nhân tại một nhà máy may với nhịp độ làm việc căng thẳng. Cuộc sống của anh bắt đầu đảo lộn từ tháng 4/2025 khi những cơn khó thở, tức ngực xuất hiện dồn dập. Cảm giác như có vật cản trong mũi khiến anh không thể hít thở bình thường, mỗi hơi thở trở nên nặng nề và đau đớn.
Lo sợ mình mắc bệnh nan y, anh N. đã ròng rã suốt 5 tháng trời "gõ cửa" khắp các bệnh viện lớn nhỏ từ tuyến địa phương đến trung ương. Anh đã thực hiện đủ các loại xét nghiệm chuyên sâu: từ nội soi tai mũi họng, đo chức năng hô hấp đến chụp cắt lớp vi tính (CT) ngực. Tuy nhiên các kết quả đều bình thường. Anh N được chẩn đoán các bệnh lý khác nhau: Viêm mũi dị ứng, Hen phế quản, Viêm mũi xoang, ...
Anh điều trị nhiều thuốc không rõ loại, bệnh không thuyên giảm, bệnh nhân nghĩ rằng các triệu chứng khó thở, khó hít vào, cảm giác tức nặng ngực là các triệu chứng của một bệnh lý nghiêm trọng, không tin mình mắc những bệnh đơn giản như đã được chẩn đoán.
Nỗi ám ảnh ấy khiến anh kiệt sức, mất niềm tin vào y học và bắt đầu xuất hiện những suy nghĩ tiêu cực: “Hay là chết đi để gia đình bớt gánh nặng?”.

Ảnh minh họa
Theo bác sĩ Phạm Thanh Tùng, Viện sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai, bệnh nhân vốn là người hướng nội, ít nói, sống cầu toàn và hay suy nghĩ từ nhỏ. Tuổi thơ của anh gắn với nhiều áp lực tâm lý khi người bố nghiện rượu, thường xuyên cáu gắt, quát mắng vợ con. Năm bệnh nhân lên 7 tuổi, bố mất vì xơ gan. Từ đó, mẹ trở thành chỗ dựa tinh thần lớn nhất của anh.
Học hết lớp 9, bệnh nhân nghỉ học để phụ giúp gia đình bằng nhiều nghề lao động tự do như sửa xe, phụ hồ, sau này vào làm công nhân may. Công việc áp lực về năng suất khiến anh thường xuyên căng thẳng, mất ngủ và mệt mỏi kéo dài.
Đỉnh điểm, đến cuối tháng 10/2025, bệnh nhân lên cơn khó thở dữ dội, khó hít vào, co quắp tay chân, cứng đờ người, bệnh nhân vẫn biết mọi chuyện xung quanh nhưng gọi hỏi không thể trả lời, người nhà đưa bệnh nhân cấp cứu tại Trung tâm Cấp cứu A9, tại đây bệnh nhân được thở oxy, làm khí máu, chụp Xquang ngực, chưa phát hiện bất thường, chuyển Viện sức khỏe tâm thần điều trị tiếp.
Rối loạn lo âu hỗn hợp biểu hiện như thế nào?
Tại Viện sức khỏe tâm thần, bệnh nhân được chẩn đoán các rối loạn lo âu hỗn hợp khác, bệnh nhân điều trị bằng các liệu pháp tâm lý, liệu pháp hóa dược, liệu pháp điều biến não. Tuy nhiên bệnh nhân vẫn rất quan tâm đến vấn đề tai mũi họng, luôn cho rằng có polyp, u cục ở mũi khiến bệnh nhân khó khăn khi hít thở. Hàng ngày, bệnh nhân thường quan sát đờm và màu sắc dịch mũi, hay soi gương xem trong mũi họng có u cục gì không. Bệnh nhân nhiều lần yêu cầu bác sĩ cho đi nội soi tai mũi họng và sử dụng kháng sinh, khi có sự thay đổi về dịch nhầy đờm họng, bệnh nhân vẫn rất lo lắng, căng thẳng dù được bác sĩ trấn an, giải thích, trong ngày vẫn còn xuất hiện những cơn khó thở, co quắp tay chân.
Điều trị nội trú gần 40 ngày, tình trạng bệnh nhân ổn định, tình trạng khó thở, khó hít vào giảm nhiều, không còn co quắp tay chân, bệnh nhân đã nhận thức được tình trạng bệnh và bản chất các triệu chứng của bệnh, được cho ra viện.

Rối loạn lo âu bệnh tật là tình trạng người bệnh lo sợ quá mức rằng mình mắc bệnh nghiêm trọng. Ảnh minh họa
Bác sĩ Nguyễn Thị Lan, Viện sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai cho hay, rối loạn lo âu bệnh tật là tình trạng người bệnh lo sợ quá mức rằng mình mắc bệnh nghiêm trọng, dù kết quả khám và xét nghiệm hoàn toàn bình thường. Người bệnh thường tập trung quá mức vào các cảm giác nhỏ của cơ thể rồi diễn giải chúng thành dấu hiệu của bệnh nguy hiểm.
Nhiều trường hợp liên tục đi khám, xét nghiệm, đổi bác sĩ nhưng vẫn không yên tâm. Một số người lại dành quá nhiều thời gian tra cứu bệnh trên internet, khiến nỗi lo ngày càng nghiêm trọng hơn.
Rối loạn này thường khởi phát ở độ tuổi trưởng thành sớm, phổ biến trong khoảng 20–30 tuổi và có thể liên quan đến sang chấn tâm lý thời thơ ấu, áp lực cuộc sống kéo dài hoặc đặc điểm tính cách cầu toàn, nhạy cảm.
Các chuyên gia khuyến cáo, khi người bệnh liên tục nghi ngờ mình mắc bệnh nặng dù đã được khám và loại trừ nhiều lần, đặc biệt nếu nỗi lo kéo dài làm ảnh hưởng đến công việc, giấc ngủ và cuộc sống, cần nghĩ tới khả năng rối loạn lo âu bệnh tật để được can thiệp sớm.









