LTS: Thời gian qua, sự bùng nổ của video ngắn, có nội dung độc hại, được cá nhân hóa và các sản phẩm do AI tạo ra khiến việc lướt mạng xã hội trở thành con dao hai lưỡi, với hệ lụy khó lường. Liên tục xuất hiện người trẻ gặp các vấn đề sức khỏe thể chất lẫn tinh thần, phải nhập viện điều trị khi sa đà vào những “cạm bẫy” từ các video ngắn này.
Tuyến bài “Cảnh báo gia tăng tình trạng người trẻ nghiện video ngắn, AI trên mạng xã hội” của Tạp chí Đời sống và Pháp luật sẽ ghi nhận ý kiến bình luận, phân tích của các cơ quan quản lý, chuyên gia an ninh mạng, chuyên gia tâm lý, bác sĩ, thầy cô giáo vv...để đưa ra các cảnh báo cùng giải pháp hướng tới việc giúp người dùng mạng xã hội, các bậc phụ huynh, đặc biệt là giới trẻ nhận diện sớm những dấu hiệu bất thường từ đó có lựa chọn đúng đắn trong việc sử dụng công nghệ, mạng xã hội tỉnh táo, an toàn, có trách nhiệm trong thời đại số.
Trẻ “mắc kẹt” trong "mê cung" vòng lặp video ngắn
Video ngắn, video do AI sáng tạo đang trở thành một phần quen thuộc trong đời sống của trẻ em và thanh thiếu niên. Chỉ với vài thao tác vuốt màn hình, người dùng có thể liên tục tiếp nhận những nội dung mới, nhanh và giàu tính kích thích. Tuy nhiên, theo chuyên gia, việc duy trì thói quen này trong thời gian dài có thể khiến trẻ quen với những phần thưởng tức thời, từ đó gặp khó khăn trong việc duy trì sự tập trung, kiểm soát hành vi và điều chỉnh cảm xúc.
PV ĐS&PL đã có cuộc trao đổi với Thạc sĩ tâm lý lâm sàng Phạm Quỳnh Trang, Chuyên gia tâm lý trị liệu tại Trung tâm chăm sóc sức khoẻ tinh thần, Bệnh viện đa khoa Phương Đông về vấn đề trên.
ĐS&PL:Dưới góc độ tâm lý, tâm thần học, theo chuyên gia việc liên tục xem video ngắn, độc hại trong thời gian dài có thể tác động như thế nào đến khả năng tập trung, kiểm soát hành vi và trạng thái cảm xúc của người trẻ?
Thạc sĩ Phạm Quỳnh Trang: Việc liên tục tiếp xúc với các video có nhịp độ nhanh, nhiều nhịp cắt cảnh và thay đổi nội dung liên tục có thể khiến não bộ dần quen với việc quét nhanh thông tin và liên tục dịch chuyển tiêu điểm chú ý, thay vì duy trì sự tập trung trong thời gian dài. Thông tin từ nội dung trước chưa được xử lý đầy đủ đã tiếp tục phải tiếp nhận những thông tin có thể tạo ra tình trạng quá tải đối với trí nhớ làm việc, khiến người trẻ dễ cảm thấy khó tập trung hoặc khó ghi nhớ những gì vừa tiếp nhận.
Các video xuất hiện liên tục và khó dự đoán, khiến người dùng luôn có cảm giác rằng nội dung tiếp theo có thể mang lại một phần thưởng hoặc sự kích thích mới. Vì vậy, người trẻ có thể hình thành xu hướng liên tục vuốt màn hình để tìm kiếm nội dung tiếp theo, ngay cả khi ban đầu không có ý định sử dụng trong thời gian dài.
Khả năng kiểm soát hành vi và trì hoãn sự thỏa mãn có thể bị ảnh hưởng. Người xem dễ ưu tiên những phần thưởng tức thời từ video ngắn hơn những hoạt động cần nhiều thời gian và nỗ lực mới mang lại kết quả. Đây cũng là lý do một số người có thể nhận thức rằng mình đã xem quá lâu nhưng vẫn khó dừng lại.
Khi đột ngột thói quen này, người xem có thể xuất hiện cảm giác bồn chồn, bứt rứt, khó chịu hoặc thôi thúc muốn quay lại sử dụng. Việc tiếp tục lướt video lại nhanh chóng mang đến sự kích thích và cảm giác dễ chịu, từ đó củng cố vòng lặp hành vi: cảm thấy khó chịu => tìm đến video ngắn => nhận được phần thưởng thỏa mãn tinh thần tức thời => tiếp tục sử dụng.

Thạc sĩ tâm lý lâm sàng Phạm Quỳnh Trang. Ảnh: NVCC
ĐS&PL: Theo bà khi nào việc xem video ngắn trở thành một thói quen không lành mạnh, thậm chí có dấu hiệu sử dụng mạng xã hội mất kiểm soát? Những biểu hiện nào cha mẹ cần đặc biệt lưu ý?
Thạc sĩ Phạm Quỳnh Trang: Không chỉ xem trẻ sử dụng mạng xã hội bao nhiêu giờ, mà cần quan sát xem trẻ có còn kiểm soát được hành vi sử dụng hay không, khả năng tập trung có thay đổi không và việc không được sử dụng có gây ra những thay đổi rõ rệt về cảm xúc hay không?
Về nhận thức, khi trẻ khó hoàn thành những công việc đòi hỏi sự tập trung cao độ như đọc sách, học tập hoặc làm việc, dù trước đây vẫn có thể thực hiện dễ dàng.
Cảm thấy bồn chồn, khó chịu hoặc lo lắng khi phải tham gia những hoạt động có nhịp độ chậm và không mang lại sự kích thích liên tục. Đang làm một việc khác nhưng tâm trí liên tục xuất hiện suy nghĩ muốn kiểm tra TikTok hoặc xem thêm một video. Khả năng ghi nhớ những thông tin vừa tiếp nhận có dấu hiệu giảm sút, ngay cả khi mới xem hoặc học xong trong thời gian ngắn. Cảm thấy đầu óc “mờ mịt”, khó tập trung hoặc khó quay trở lại công việc sau một khoảng thời gian lướt mạng.
Về hành vi, theo thói quen, tự động mở video ngắn mỗi khi có thời gian rảnh, buồn chán hoặc không biết phải làm gì. Dành cho video ngắn nhiều thời gian hơn đáng kể so với dự định ban đầu, dù trước đó chỉ định xem trong vài phút. Khó tham gia hoặc duy trì những hoạt động có nhịp độ chậm mà không cảm thấy bồn chồn, khó chịu hoặc cáu kỉnh.
Hình thành thói quen xem video ngắn ngay sau khi thức dậy hoặc ngay trước khi đi ngủ. Sử dụng video ngắn như một cách quen thuộc để giải tỏa căng thẳng, né tránh cảm xúc khó chịu hoặc trì hoãn những nhiệm vụ khiến bản thân cảm thấy khó khăn.
Về cảm xúc, cảm thấy lo lắng, bứt rứt hoặc cáu kỉnh khi không thể xem video ngắn. Dần bỏ qua hoặc giảm các tương tác trực tiếp với gia đình, bạn bè để dành nhiều thời gian hơn cho việc lướt mạng. Cảm thấy cuộc sống thực trở nên nhàm chán khi so sánh với sự kích thích nhanh và liên tục mà mạng xã hội mang lại. Nhận ra bản thân đang sử dụng mạng xã hội quá nhiều hoặc việc sử dụng đã trở thành vấn đề, nhưng vẫn khó giảm thời gian sử dụng dù đã nhiều lần cố gắng.

Những video do AI tạo ra trên các nền tảng mạng xã hội thu hút hàng nghìn, thậm trí hàng triệu lượt xem. Ảnh: Lê Liên
ĐS&PL:Các video AI được sản xuất hàng loạt, có nội dung gây sốc, kích thích tò mò hoặc liên tục thay đổi có thể tạo ra cơ chế khiến người xem khó dừng lại hay không? Điều này được lý giải như thế nào dưới góc độ sức khỏe tâm thần?
Thạc sĩ Phạm Quỳnh Trang: Khi các video được sản xuất hàng loạt, liên tục thay đổi và đặc biệt tập trung vào những nội dung gây sốc, tiêu cực hoặc kích thích tò mò, chúng có thể tạo ra một vòng lặp khiến người xem khó dừng lại dù nhận thức được rằng việc tiếp tục xem không thực sự khiến mình cảm thấy tốt hơn. Đây là hiện tượng Doomscrolling: hành vi liên tục lướt và tiếp nhận những tin tức hoặc nội dung tiêu cực, ngay cả khi người xem biết rằng điều đó đang khiến mình cảm thấy tồi tệ hơn.
Dưới góc độ tâm lý học, một phần lý do nằm ở thiên kiến tiêu cực. Não bộ có xu hướng chú ý đến những thông tin liên quan đến nguy hiểm, đe dọa hoặc những điều bất thường. Đây từng là một cơ chế có ý nghĩa đối với sự sinh tồn, bởi việc nhanh chóng nhận diện nguy hiểm giúp con người phản ứng và tự bảo vệ mình. Trong môi trường mạng xã hội, cơ chế này có thể khiến chúng ta dễ bị thu hút bởi những tiêu đề tiêu cực, đáng báo động, hình ảnh gây sốc hoặc nội dung tiêu cực hơn những nội dung bình thường và tích cực.
Các hormone như cortisol và adrenaline được huy động trong quá trình này. Người xem có thể vừa trải nghiệm sự kích thích, căng thẳng khi tiếp nhận nội dung, vừa tiếp tục lướt sang nội dung tiếp theo để tìm kiếm thông tin mới hoặc cảm giác nhẹ nhõm. Từ đó hình thành một vòng lặp: nội dung gây kích thích => phản ứng cảm xúc => tiếp tục tìm kiếm nội dung mới => lại xuất hiện kích thích.
Khi việc tiếp nhận nội dung tiêu cực trở nên quá mức, những ảnh hưởng có thể vượt ra ngoài thời gian sử dụng mạng xã hội.
Nghiên cứu cho thấy việc tiếp xúc thường xuyên với tin tức tiêu cực có liên quan đến các vấn đề như lo âu, trầm cảm và rối loạn giấc ngủ. Đồng thời, việc liên tục tập trung vào những thông tin tiêu cực cũng có thể ảnh hưởng đến cách một người nhìn nhận thế giới, khiến họ có xu hướng đánh giá các sự kiện tiêu cực là phổ biến hoặc nghiêm trọng hơn thực tế và ít chú ý hơn đến những thông tin tích cực.
Những dấu hiệu cha mẹ cần lưu ý
ĐS&PL:Việc dành quá nhiều thời gian cho video ngắn, độc hại, có thể liên quan đến những vấn đề như rối loạn giấc ngủ, giảm khả năng học tập, gia tăng căng thẳng hoặc thay đổi hành vi ở trẻ em, thanh thiếu niên ra sao?
Thạc sĩ Phạm Quỳnh Trang: Dưới góc độ tâm lý học, tôi cho rằng cần nhìn vấn đề này như một chuỗi tác động, thay vì xem giấc ngủ, việc học hay hành vi là những vấn đề hoàn toàn tách biệt.
Ánh sáng xanh từ màn hình có thể ảnh hưởng đến quá trình sản xuất melatonin và chu kỳ giấc ngủ. Xem quá nhiều video ngắn dễ khiến trẻ trì hoãn thời điểm đi ngủ. Nếu trẻ thường xuyên tiếp xúc với những nội dung gây kích thích, tranh cãi hoặc tiêu cực ngay trước khi ngủ, trạng thái cảm xúc có thể vẫn duy trì ở mức hưng phấn hoặc căng thẳng, khiến việc thư giãn và đi vào giấc ngủ trở nên khó khăn hơn. Khi ngủ không đủ, ngày hôm sau trẻ lại dễ mất tập trung, khó điều chỉnh cảm xúc và giảm khả năng học tập.
Học tập lại đòi hỏi tư duy tập trung với một nhiệm vụ ngay cả khi nhiệm vụ đó chưa tạo ra hứng thú tức thời. Xem video ngắn là một kiểu tương tác rất khác với việc đọc sách hay học một vấn đề. Nếu duy trì thói quen tìm kiếm kích thích nhanh, những hoạt động chậm có thể dễ bị trẻ cảm nhận là nhàm chán và khó duy trì. Từ đó, trẻ hình thành thói quen trì hoãn học tập: một bài tập khó khiến trẻ khó chịu, điện thoại mang lại một lựa chọn dễ chịu hơn, trẻ mở một video “chỉ xem vài phút”, rồi tiếp tục xem video tiếp theo. Hành vi này được lặp lại đến mức trở thành cách phản ứng quen thuộc trước sự khó khăn.
Video ngắn có thể vừa là nguồn kích thích vừa trở thành công cụ điều chỉnh cảm xúc. Một trẻ buồn chán, căng thẳng hoặc thất vọng có thể nhanh chóng dùng điện thoại để chuyển sự chú ý khỏi cảm xúc đó. Cách này có thể đem lại cảm giác dễ chịu trong ngắn hạn, nhưng nếu được sử dụng cho hầu hết những trạng thái khó chịu, trẻ sẽ có ít cơ hội học cách nhận diện, chịu đựng và tự điều chỉnh cảm xúc mà không cần đến màn hình.
Việc liên tục nhìn thấy những hình ảnh được lựa chọn và lý tưởng hóa về ngoại hình, thành tích, tiền bạc hay đời sống của người khác có thể khiến trẻ đánh giá bản thân dựa trên những tiêu chuẩn không thực tế. Khi khoảng cách giữa bản thân và hình ảnh trên mạng ngày càng được cảm nhận rõ, cảm giác tự ti, đố kỵ hoặc không hài lòng với bản thân có thể gia tăng.
Ở trẻ em và thanh thiếu niên, các năng lực như kiểm soát xung động, trì hoãn sự thỏa mãn và điều chỉnh hành vi vẫn đang phát triển. Một môi trường liên tục cung cấp những phần thưởng nhanh có thể khiến việc chờ đợi, kiên trì và chấp nhận sự nhàm chán trở nên khó khăn hơn.
Vì vậy, cha mẹ có thể nhận thấy trẻ không chỉ xem video ngắn nhiều mà còn dễ cáu khi bị ngắt, khó chuyển sang một hoạt động khác, liên tục thương lượng để được xem thêm hoặc quay lại điện thoại ngay khi cảm thấy buồn chán.

Chuyên gia chỉ dấu hiệu trẻ em, người trẻ sử dụng mạng xã hội mất kiểm soát. Ảnh minh họa/Lê Liên
ĐS&PL:Nếu một trẻ đã hình thành thói quen liên tục tìm kiếm và xem video ngắn, gia đình nên can thiệp như thế nào? Khi nào cần đưa trẻ đến gặp bác sĩ hoặc chuyên gia sức khỏe tâm thần?
Thạc sĩ Phạm Quỳnh Trang: Trước hết, cha mẹ cần giúp trẻ phát triển năng lực hiểu và sử dụng công nghệ. Bản thân cha mẹ cũng cần trở thành hình mẫu sử dụng công nghệ. Nếu cha mẹ yêu cầu con đặt điện thoại xuống nhưng chính mình lại liên tục kiểm tra điện thoại trong bữa ăn hoặc khi trò chuyện với con, thông điệp giáo dục sẽ khó có hiệu quả. Gia đình có thể thống nhất những khoảng thời gian và không gian không sử dụng thiết bị, chẳng hạn trong bữa ăn hoặc phòng ngủ.
Bên cạnh việc đặt giới hạn, phụ huynh cần ưu tiên giúp trẻ nhận biết trạng thái của chính mình. Thay vì chỉ hỏi “Hôm nay con xem bao lâu?”, cha mẹ có thể hỏi: “Trước khi xem con đang cảm thấy thế nào?”, “Sau khi xem con thấy dễ chịu hơn hay mệt hơn?” “Có lúc nào con định dừng nhưng lại tiếp tục không?”. Qua đó, trẻ bắt đầu nhận ra mối liên hệ giữa cảm xúc, hành vi sử dụng, hậu quả sau khi sử dụng.
Ngoài ra có thể tạo những khoảng chuyển tiếp rõ ràng. Việc chuyển ngay từ một chuỗi video có kích thích cao sang học bài, ăn cơm hoặc đi ngủ có thể không dễ dàng. Gia đình có thể xây dựng những “nghi thức chuyển đổi” ổn định, chẳng hạn báo trước thời điểm kết thúc, cất thiết bị vào một vị trí cố định rồi chuyển sang một hoạt động cụ thể khác giúp trẻ hình thành thói quen kết thúc một hoạt động thay vì bị kéo sang video tiếp theo.
Hoặc phụ huynh có thể xây dựng những cách ứng phó khác ngoài màn hình. Nếu trẻ thường tìm đến video khi buồn chán, căng thẳng hoặc thất vọng, việc chỉ lấy điện thoại đi mà không thay thế chức năng của nó thường rất khó duy trì. Cha mẹ nên cùng trẻ xây dựng một danh sách lựa chọn phù hợp với sở thích của trẻ: vận động, nghe nhạc, đọc sách, trò chuyện, chơi cùng gia đình hoặc thực hiện một hoạt động mà trẻ thực sự hứng thú.
Cuối cùng, để trẻ tham gia vào việc đặt mục tiêu. Thay vì cha mẹ đơn phương đưa ra một con số rồi yêu cầu trẻ tuân thủ, hãy cùng trẻ xác định mục tiêu sử dụng thiết bị và theo dõi xem mục tiêu đó có thực hiện được hay không. Khi trẻ được tham gia vào quá trình này, sẽ dần chuyển từ bố mẹ kiểm soát con sang con học cách tự kiểm soát mình.
Không tự ý đánh đồng việc xem nhiều video với một rối loạn tâm thần. Cha mẹ nên tìm đến bác sĩ hoặc chuyên gia tâm lý khi nhận thấy việc sử dụng bắt đầu gây ra những ảnh hưởng rõ rệt và kéo dài, chẳng hạn trẻ liên tục mất ngủ, sa sút học tập, thu mình khỏi các mối quan hệ, thay đổi cảm xúc hoặc hành vi đáng kể, không thể kiểm soát việc sử dụng dù đã nhiều lần cố gắng, hoặc việc sử dụng trở thành cách chủ yếu để đối phó với lo âu, buồn bã hay những khó khăn tâm lý khác.
Nếu cha mẹ nhận thấy trẻ có dấu hiệu trầm cảm, lo âu nghiêm trọng, có ý nghĩ hoặc hành vi có hại, thậm chí manh nha có hành động tự hủy hoại bản thân vv... cần đưa trẻ đi đánh giá chuyên môn càng sớm càng tốt thay vì chỉ xem đây là vấn đề nghiện video ngắn, độc hại trên mạng xã hội.
ĐS&PL:Trân trọng cảm ơn bà.










